Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa với sự gia tăng nhanh chóng về quy mô kinh tế, song cũng đối mặt với nhiều thách thức sinh thái nghiêm trọng. Theo các báo cáo môi trường quốc gia, tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được xử lý đạt quy chuẩn hiện mới chỉ đạt trên 10%, trong khi lượng chất thải rắn gia tăng đột biến tại các vùng kinh tế trọng điểm. Thế hệ trẻ hiện chiếm khoảng 27% dân số cả nước, đóng vai trò là lực lượng nòng cốt định hình tương lai phát triển bền vững. Đứng trước thực trạng đó, việc xây dựng và củng cố đạo đức môi trường cho sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học trở thành nhiệm vụ cấp thiết mang tính chiến lược lâu dài.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi đạo đức môi trường của sinh viên Trường Đại học Hải Dương đang diễn ra như thế nào, từ đó xác định những khoảng cách giữa ý thức lý thuyết và hành động thực tiễn. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về đạo đức sinh thái, khảo sát đánh giá thực chứng các chiều cạnh hành vi môi trường học đường, phân tích nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại và kiến tạo hệ thống giải pháp nâng cao đạo đức môi trường mang tính khả thi cao.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai đối với sinh viên hệ đại học chính quy tại Trường Đại học Hải Dương trên cả hai cơ sở đào tạo, bao gồm cơ sở mới tại xã Liên Hồng, huyện Gia Lộc với quy hoạch 21,7 ha trong giai đoạn 2016–2018. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn được đo lường bằng việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng tỷ lệ sinh viên tự giác tham gia phong trào môi trường từ 59,7% lên trên 85%, đồng thời triệt tiêu 100% các hành vi xâm hại cảnh quan học đường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa con người và giới tự nhiên, xem tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, kết hợp với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa Thuyết Đạo đức đất đai của Aldo Leopold công bố năm 1949 với nguyên lý hành động đúng đắn là hành động bảo tồn tính toàn vẹn và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật. Trong bối cảnh nhân loại đã khai thác cạn kiệt hơn 40% nguồn tài nguyên không thể tái tạo, các chuẩn mực đạo đức sinh thái cần được cụ thể hóa vào môi trường giáo dục đại học.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh 4 khái niệm trọng tâm:

  • Đạo đức: Hình thái ý thức xã hội điều chỉnh hành vi con người thông qua niềm tin nội tâm và dư luận xã hội.
  • Môi trường: Hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
  • Đạo đức môi trường: Hệ thống các chuẩn mực, nguyên tắc điều chỉnh hành vi của con người đối với tự nhiên một cách tự giác vì mục tiêu phát triển bền vững.
  • Đặc điểm tâm lý sinh viên: Lứa tuổi từ 18 đến 24 tuổi với trọng lượng não bộ đạt khoảng 1400 gram, giai đoạn hoàn thiện tư duy lý luận trừu tượng và khả năng tự đánh giá nhân cách.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra xã hội học bằng bảng hỏi an-két kết hợp với dữ liệu thứ cấp từ 329 cán bộ, giảng viên và các báo cáo tổng kết của Đoàn Thanh niên nhà trường. Cỡ mẫu khảo sát thực chứng đạt N = 300 sinh viên chính quy thuộc các khóa 4, khóa 5, khóa 6 và khóa 7. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng theo các ngành học mũi nhọn gồm Kế toán, Quản trị kinh doanh và Kỹ thuật điện - điện tử nhằm đảm bảo tính đại diện cao.

Các phương pháp phân tích chính bao gồm: phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, phương pháp cấu trúc - hệ thống và thống kê mô tả tần số, tỷ lệ phần trăm (%). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đối sánh khách quan giữa ý thức chủ quan và hành vi thực tế, giúp lượng hóa chính xác các chỉ số đạo đức học đường. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được tiến hành trong mốc thời gian 2 năm học, từ năm 2016 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng trên 300 sinh viên tại Trường Đại học Hải Dương mang lại các phát hiện định lượng then chốt:

  • Thói quen giữ gìn vệ sinh cơ bản đạt tỷ lệ cao: Có 98,0% (294/300 sinh viên) khẳng định luôn có ý thức vứt rác đúng nơi quy định trong khuôn viên lớp học và ký túc xá, trong khi chỉ có 2,0% (6/300 sinh viên) thừa nhận chưa duy trì thói quen này thường xuyên.
  • Nhận thức về chuẩn mực đạo đức môi trường có sự phân hóa: Có 74,3% (223 sinh viên) nhận thức đúng đắn rằng đạo đức môi trường đòi hỏi sự kết hợp giữa không xả rác và chủ động tham gia phong trào ngoại khóa, trong khi 25,7% (87 sinh viên) chỉ hiểu đạo đức môi trường ở mức độ thụ động là không vứt rác bừa bãi.
  • Mức độ tham gia hoạt động phong trào còn khoảng cách: Tỷ lệ sinh viên tham gia phong trào môi trường vài lần chiếm 59,7% (179 sinh viên), tham gia 1 lần chiếm 34,0% (102 sinh viên), và vẫn còn 6,3% (19 sinh viên) chưa từng tham gia bất kỳ phong trào vệ sinh nào do nhà trường phát động.
  • Hiệu quả lan tỏa từ lực lượng hạt nhân: Phong trào phát triển Đảng từ Đội Thanh niên xung kích ghi nhận 8 sinh viên được kết nạp Đảng trong năm học 2016–2017 và tăng lên 11 sinh viên trong năm học 2017–2018 (tăng trưởng 37,5%), tạo động lực lớn cho phong trào tự quản môi trường.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự phân tầng rõ rệt giữa nhận thức lý thuyết và hành động thực tiễn. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc công tác giáo dục đạo đức môi trường mới chỉ tập trung nhiều vào tuần sinh hoạt công dân đầu khóa kéo dài 2 tuần mà chưa được lồng ghép sâu vào từng học phần chuyên môn. Hơn nữa, tâm lý lứa tuổi 18–24 tuổi tuy nhạy bén nhưng tính tự giác chưa đồng đều khi thiếu sự giám sát thường xuyên của giảng viên chủ nhiệm.

Khi so sánh với các điều tra cơ bản của Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện giai đoạn 2009–2010 trên phạm vi toàn quốc, kết quả tại Đại học Hải Dương có nét tương đồng: tỷ lệ nhận thức luôn đạt trên 90% nhưng tỷ lệ hành động tự nguyện chỉ dao động quanh ngưỡng 60%. Dữ liệu cấu trúc nhận thức và hành vi này có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng tổng hợp tần số và biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ % mức độ tham gia hoạt động môi trường, giúp nhận diện rõ ràng khoảng cách giữa nhận thức và thực tiễn để thiết kế giải pháp can thiệp trúng đích.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Đổi mới chương trình giáo dục đạo đức môi trường chính khóa và ngoại khóa: Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo chủ trì tích hợp học phần đạo đức sinh thái vào tuần giáo dục công dân 2 tuần đầu khóa và các môn khoa học xã hội; triển khai trong giai đoạn 2026–2028 với mục tiêu 100% sinh viên hoàn thành bài thu hoạch đạt yêu cầu từ loại khá trở lên.
  • Mở rộng phong trào Ngày Chủ nhật xanh và Tết trồng cây: Đoàn Thanh niên và Đội Thanh niên xung kích tổ chức định kỳ 2 lần mỗi tháng; mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên tham gia thường xuyên từ 59,7% lên trên 85%, đồng thời hoàn thành phủ xanh 100% diện tích đất trống 14,7 ha thuộc giai đoạn 1 của cơ sở mới trước năm 2028.
  • Hoàn thiện quy chế khen thưởng, kỷ luật gắn với đánh giá điểm rèn luyện: Phòng Công tác Học sinh Sinh viên và Đảng ủy nhà trường ban hành bộ tiêu chí chấm điểm rèn luyện định kỳ; áp dụng từ năm học 2026–2027 với mục tiêu kết nạp Đảng từ 15 đến 20 sinh viên tiêu biểu/năm học và xử lý dứt điểm 100% các vi phạm xả rác bừa bãi.
  • Đa dạng hóa nguồn kinh phí xã hội hóa cho công tác bảo tồn cảnh quan: Ban Giám hiệu phối hợp với các doanh nghiệp liên kết và chính quyền địa phương tỉnh Hải Dương bố trí ngân sách giai đoạn 2026–2030; dành tối thiểu 5% đến 10% kinh phí phong trào để trang bị hệ thống thùng rác phân loại đạt chuẩn tại 100% các giảng đường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Giám hiệu và Phòng Công tác Học sinh Sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng nội quy học đường, thiết kế tuần lễ sinh hoạt công dân đầu khóa và tối ưu hóa mô hình quản lý ký túc xá văn minh.
  • Cán bộ Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên và Ban Chủ nhiệm các Câu lạc bộ Tình nguyện: Khai thác mô hình tổ chức Đội Thanh niên xung kích và các giải pháp tổ chức Ngày Chủ nhật xanh nhằm huy động hiệu quả lực lượng sinh viên tham gia cải tạo không gian học đường rộng trên 14,7 ha.
  • Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học khối ngành Triết học, Xã hội học, Giáo dục học: Sử dụng khung lý thuyết đạo đức sinh thái Mác - Lênin và bộ dữ liệu khảo sát 300 sinh viên làm cơ sở đối sánh cho các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu.
  • Các cơ quan quản lý tài nguyên môi trường và chính quyền địa phương tỉnh Hải Dương: Tham khảo số liệu thực chứng để hoạch định chính sách phối hợp liên ngành giữa nhà trường và cộng đồng dân cư trong việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt.

Câu hỏi thường gặp

  • Đạo đức môi trường ở sinh viên khác gì so với nhận thức bảo vệ môi trường thông thường? Đạo đức môi trường vượt lên trên sự hiểu biết lý thuyết đơn thuần, đòi hỏi hành vi bảo vệ tự nhiên phải trở thành nhu cầu tự giác, xuất phát từ lương tâm và niềm tin nội tâm mà không cần mệnh lệnh cưỡng chế. Trong khi nhận thức chỉ dừng lại ở việc biết các quy định, đạo đức môi trường thể hiện qua lối sống xanh hằng ngày với tinh thần trách nhiệm xã hội cao.

  • Cơ sở lý luận nền tảng của đề tài này là gì? Luận văn dựa trên phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin về sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh về Tết trồng cây, cùng quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết 41-NQ/TW. Khung lý thuyết cũng tích hợp Thuyết Đạo đức đất đai năm 1949 nhằm chuẩn hóa các tiêu chí ứng xử sinh thái trong kỷ nguyên phát triển bền vững.

  • Khảo sát thực tế tại Trường Đại học Hải Dương cho thấy điểm sáng lớn nhất là gì? Điểm sáng nổi bật là 98,0% sinh viên đã hình thành thói quen vứt rác đúng nơi quy định và 74,3% sinh viên có nhận thức toàn diện về trách nhiệm môi trường. Hoạt động của Đội Thanh niên xung kích gắn với phong trào phát triển Đảng đã kết nạp 11 đoàn viên ưu tú trong năm học 2017–2018, tạo ra động lực lan tỏa sâu rộng trong học đường.

  • Đâu là rào cản lớn nhất khiến một bộ phận sinh viên chưa tích cực bảo vệ môi trường? Rào cản chủ yếu là thói quen thụ động và tâm lý ỷ lại vào nhân viên vệ sinh, khiến 6,3% sinh viên chưa từng tham gia hoạt động phong trào. Công tác giáo dục môi trường trong trường học đôi khi còn nặng tính lý thuyết, thiếu các hình thức trải nghiệm thực tế và chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe.

  • Những giải pháp nào có tính đột phá để nâng cao đạo đức môi trường học đường? Giải pháp đột phá là gắn kết quả rèn luyện môi trường với tiêu chí đánh giá đoàn viên, xét học bổng và kết nạp Đảng với chỉ tiêu 15–20 sinh viên/năm. Đồng thời, nhà trường cần kết hợp đầu tư hạ tầng phân loại rác tại nguồn trên toàn bộ khuôn viên 21,7 ha và đẩy mạnh các hội thi tiểu phẩm tuyên truyền tương tác cao.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và các chuẩn mực đạo đức môi trường trong bối cảnh phát triển bền vững hiện nay.
  • Đánh giá khách quan thực trạng đạo đức môi trường của sinh viên Trường Đại học Hải Dương thông qua bộ dữ liệu khảo sát thực chứng N = 300 mẫu.
  • Chỉ rõ khoảng cách thực tế giữa tỷ lệ nhận thức đúng đạt 98,0% và tỷ lệ sinh viên duy trì hành động phong trào thường xuyên ở mức 59,7%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hệ thống kết hợp giữa đào tạo chính khóa, hoạt động Đoàn thanh niên và cơ chế chấm điểm rèn luyện chặt chẽ.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo khoa học có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản trị đại học và giáo dục đạo đức sinh thái trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Lộ trình tiếp theo hướng tới việc triển khai thí điểm mô hình học đường không rác thải nhựa tại cơ sở Liên Hồng giai đoạn 2026–2028 trước khi nhân rộng trên toàn tỉnh vào năm 2030. Các cơ sở giáo dục đại học và nhà quản lý giáo dục hãy ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu này để xây dựng môi trường học đường văn minh, xanh - sạch - đẹp và phát triển bền vững.