Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƢỜNG 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Đạo đức ● Khái niệm đạo đức Đạo đức là một từ Hán Việt dùng để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người, những tư tưởng về đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại. Theo nghĩa Hán Việt có thể hiểu: đạo là con đường, đức là tính tốt.
Khi nói một người có đạo đức tức là nói người đó đã có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống có chuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hồn. Hiện nay, đạo đức là một vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu, chúng ta có thể thấy đạo đức là một hiện tượng xã hội được hình thành trong quá trình lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất, trong mối quan hệ giữa con người với con người nhằm điều chỉnh hành vi của mình để đảm bảo sự hoạt động của cộng đồng nói chung. Đạo đức được hình thành dựa trên cơ sở tự giác, tự nguyện không mang tính cưỡng ép, bắt buộc. Chỉ có những hành vi được thực hiện trên cơ sở tự giác, tự nguyện và phù hợp với lợi ích xã hội mới được coi là hành vi đạo đức.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “đạo đức” là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xà hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn nhất định mà có” [39, tr. Theo Giáo trình đạo đức học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai. Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. 8 Như vậy có thể hiểu đạo đức theo các khía cạnh sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, trong đó tập hợp những qui tắc, chuẩn mực xã hội và từ những quy tắc, chuẩn mực đó con người sẽ tự giác điều chỉnh hành vi của bản thân mình để phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội.
Đạo đức là hệ thống những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực thể hiện sự tự giác của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, con người với tự nhiên và con người với chính bản thân mình. Cấu trúc của đạo đức Với tư cách là một bộ phận của triết học, đạo đức là một hiện tượng xã hội có cấu trúc phức tạp, gồm các thành phần sau: ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức. Ý thức đạo đức: Là hệ thống những quan niệm, nguyên tắc, tri thức và những cảm xúc, tình cảm chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc và công bằng… Mặt khác nó còn bao gồm cả những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội. Hành vi đạo đức: Là một hành động được thực hiện một cách tự giác, tự nguyện và được xuất phát bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức.
Hay có thể hiểu hành vi đạo đức là những cử chỉ, hành động và việc làm của con người trong các mối quan hệ xã hội mà phù hợp với các chuẩn mực đạo đức. Quan hệ đạo đức: Là tổng hợp những quan hệ xã hội, tác động qua lại với nhau, đó là quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội xét về mặt đạo đức. Quan hệ đạo đức có tính tự giác và tự nguyện, nó vận động, biến đổi theo quá trình phát triển của xã hội, trong phạm vi một hình thái kinh tế - xã hội hay hệ giá trị đạo đức của một giai cấp cũng có sự vận động, phát triển. Ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức và hành vi đạo đức là những yếu tố tạo nên cấu trúc của đạo đức, chúng không tồn tại độc lập, mà có quan hệ biện chứng tác 9 động qua lại với nhau.
Cấu trúc đạo đức không thể thiếu một tỏng ba yếu tố này. Ý thức đạo đức được hình thành trong quan hệ đạo đức và là điều kiện để hình thành hành vi đạo đức. Hành vi đạo đức là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức và không thể tách rời quan hệ đạo đức. Chức năng của đạo đức Tương tự như cấu trúc của đạo đức, chức năng của đạo đức cũng có ba chức năng bao gồm: chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục và chức năng nhận thức.
Chức năng điều chỉnh hành vi: Đây được coi là chức năng quan trọng nhất của đạo đức, mặc dù là chức năng quan trọng nhất nhưng đó không phải là cái đặc quyền của đạo đức, bởi vì trong xã hội, con người tạo ra rất nhiều phương thức điều chỉnh hành vi của mình như: pháp luật, tôn giáo, chính trị, nghệ thuật, nhận thức khoa học.Chức năng này nhằm bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân. Nếu như sức mạnh của pháp luật là sự cưỡng chế, bắt buộc phải thực hiện thì sức mạnh của đạo đức chính là niềm tin cá nhân, là truyền thống và dư luận xã hội. Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện bằng hai phương thức chủ yếu như sau: Thứ nhất là xã hội tạo ra sức mạnh dư luận để khen ngợi, động viên những người có đạo đức và có những hành vi tốt đẹp. Đồng thời cũng lên án, phê phán những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến mọi người xung quanh và đến cộng đồng xã hội.
Thứ hai là bản thân mỗi người phải tự giác, xuất phát từ chính ý thức của mình để điều chỉnh hành vi thông qua những chuẩn mực đạo đức xã hội và bản thân cũng phải tham gia các hoạt động thực tiễn để bổ sung nhận thức, rèn luyện ý chí. Chức năng giáo dục: Đây cũng là một trong những chức năng cơ bản của đạo đức, chức năng này có tác dụng hình thành những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức trong từng con người cụ thể và phát triển nhân cách của họ. Đây cũng là con đường đặc trưng cơ bản để loài người tồn tại và phát triển. Có thể hiểu, chức năng giáo dục của đạo đức chính là làm cho “tính người” ở mỗi 10 người được nhiều lên để ngày càng có nhiều hành động đẹp cho những người khác học tập và noi theo.
Về thực chất chức năng này là đạo đức hóa con người và xã hội loài người. Hiệu quả của chức năng này phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, xã hội, vào mức độ tự giác của mỗi người trong quá trình giáo dục đạo đức để hướng tới nhân cách và phẩm chất cần có. Chức năng nhận thức: Ngoài hai chức năng nêu trên, đạo đức còn có chức năng nhận thức. Chức năng này bao gồm: nhận thức và tự nhận thức.
Nhận thức của đạo đức là một quá trình vừa có hướng nội, vừa có hướng ngoại. Nhận thức hướng nội lấy bản thân chủ thể đạo đức làm đối tượng để nhận thức. Đây là quá trình chủ thể đạo đức tự đánh giá bản thân, tự đối chiếu nhận thức cũng như những hành vi của mình với chuẩn mực đạo đức xem đã phù hợp chưa? Nhận thức hướng ngoại là lấy chuẩn mực đạo đức làm đối tượng để nhận thức. Trên cơ sở đó, chủ thể nhận thức làm gia tăng thêm tính hướng nội của mình.
Còn tự nhận thức là quá trình bản thân tự thẩm định, tự đánh giá những nhận thức, hành vi đạo đức của mình với chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng, xã hội. Từ hai quá trình nhận thức trên con người sẽ đi đến phân biệt những giá trị như: đúng - sai, tốt - xấu, thiện - ác. và hướng tới giá trị bao quátmà con người muốn vươn tới là chân, thiện, mỹ. Các chức năng của đạo đức đều có một vai trò nhất định, nhưng không phải vì thế mà chúng tách rời nhau, không có ràng buộc với nhau mà ngược lại chúng đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự vận hành của chức năng này là tiền đề, điều kiện của sự vận hành chức năng đạo đức khác.
Hơn nữa chúng đều hướng tới một mục đích chung của xã hội đó là nhân đạo hóa con người và xã hội loài người. Môi trường Khái niệm môi trường Môi trường là khái niệm rộng, bao quát nhiều nội dung và được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, giáo dục. theo định nghĩa thông thường thì môi trường được hiểu: “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên 11 và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy. Về mặt pháp lý, theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kì họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 thì môi trường được định nghĩa là: "hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Từ cách định nghĩa này của Luật Bảo vệ môi trường có thể hiểu môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người và nó có ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sống của con người như: sinh hoạt, sản xuất, học tập. Nghĩa là có thể thấy, con người chính là trung tâm của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Thành phần của môi trường theo Điều 1 của Luật này bao gồm: "là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác". Hiện nay có hai cách hiểu đơn giản về môi trường, đó là hiểu theo nghĩa rộng và hiểu theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, môi trường bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho hoạt động sinh hoạt, lao động, sản xuất của con người như: nước, không khí, đất, ánh sáng.