Tổng quan nghiên cứu

Làng nghề truyền thống giữ vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam với hơn 1.300 làng nghề được công nhận và tạo việc làm cho hơn 11 triệu lao động trên toàn quốc. Tại tỉnh Bắc Giang, trong tổng số 33 làng nghề đang hoạt động, làng nghề bún Đa Mai thuộc phường Đa Mai là một trong những làng nghề cổ xưa nhất miền Bắc với lịch sử hình thành hơn 400 năm. Trên địa bàn phường có diện tích tự nhiên 360,88 ha và dân số 7.242 người, nghề sản xuất bún tập trung chủ yếu tại 4 tổ dân phố trọng điểm gồm Hòa Sơn, Mai Đình, Mai Đọ và Mai Sẫu với 112 hộ gia đình trực tiếp sản xuất. Năm 2016, cơ cấu kinh tế của phường ghi nhận sự chuyển dịch tích cực với tỷ trọng thương mại và dịch vụ đạt 45%, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 32%, trong khi nông nghiệp giảm còn 23%.

Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô sản xuất đã kéo theo những hệ lụy môi trường nghiêm trọng. Năm 2016, chính quyền địa phương đã tiếp nhận 86 vụ tranh chấp và khiếu nại liên quan trực tiếp đến ô nhiễm môi trường do xả thải bún. Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là sự xung đột sâu sắc giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hộ gia đình với yêu cầu bảo tồn chất lượng sống cộng đồng. Được thực hiện trong phạm vi thời gian từ tháng 02/2016 đến tháng 03/2017 tại phường Đa Mai, luận văn hướng tới 3 mục tiêu cụ thể: đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường, nhận diện và phân tích bản chất các xung đột môi trường, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp giảm thiểu mâu thuẫn xã hội. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên về xung đột môi trường làng nghề bún, hỗ trợ cơ quan quản lý nâng cao hiệu quả hòa giải cơ sở và kiểm soát ô nhiễm đô thị bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết xung đột xã hội và xung đột môi trường do các nhà khoa học môi trường hàng đầu Việt Nam và quốc tế phát triển. Trọng tâm là mô hình tương tác 3 bên giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở sản xuất và cộng đồng dân cư trong việc phân chia, khai thác và thụ hưởng tài nguyên. Khung phân tích tập trung vào 3 dạng xung đột môi trường cơ bản:

Thứ nhất, xung đột nhận thức xuất phát từ sự khác biệt trong hiểu biết và văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên giữa nhóm sản xuất và nhóm dân cư xung quanh. Thứ hai, xung đột mục tiêu nảy sinh khi hộ làm nghề đặt ưu tiên tối đa hóa sản lượng trong khi cộng đồng hướng tới bảo vệ sức khỏe và không gian sống trong lành. Thứ ba, xung đột lợi ích diễn ra khi các nhóm xã hội tranh chấp quyền sử dụng nguồn tiếp nhận nước mặt và không gian công cộng. Luận văn chuẩn hóa 4 khái niệm then chốt gồm: ô nhiễm môi trường làng nghề chế biến nông sản, sức tải môi trường địa phương, bất bình đẳng môi trường và cơ chế giải quyết xung đột thông qua đàm phán, hòa giải cơ sở và chế tài hành chính.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê kinh tế xã hội giai đoạn 2012–2016 của UBND phường Đa Mai, các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, Thông tư 46/2011/TT-BTNMT và các tài liệu quan trắc chuyên ngành của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang.

Dữ liệu sơ cấp được điều tra thông qua khảo sát xã hội học và quan trắc thực nghiệm trong giai đoạn từ tháng 09/2016 đến tháng 03/2017:

Về quy mô mẫu điều tra xã hội học, tác giả áp dụng công thức Yamane (1967) trên tổng số 112 hộ làm bún với sai số cho phép e = 0,15, xác định cỡ mẫu đại diện là 64 hộ, chia đều thành 32 hộ trực tiếp làm bún và 32 hộ không tham gia sản xuất bún. Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đảm bảo tính khách quan và phản ánh đầy đủ quan điểm đối lập giữa hai nhóm dân cư. Nghiên cứu cũng phỏng vấn sâu 08 cán bộ địa phương gồm 01 lãnh đạo UBND phường và 07 trưởng tổ dân phố nhằm thu thập góc nhìn quản lý toàn diện.

Về quan trắc môi trường, đề tài tiến hành lấy mẫu và phân tích thực nghiệm tại Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang qua 2 đợt: lấy 04 mẫu nước thải sản xuất theo TCVN 5992:1995 đối chiếu với QCVN 40:2011/BTNMT; 02 mẫu nước mặt theo TCVN 5994:1995 đối chiếu với QCVN 08-MT:2015/BTNMT; 04 mẫu nước ngầm theo TCVN 6663-11:2011 đối chiếu với QCVN 09-MT:2015/BTNMT; 04 mẫu không khí và tiếng ồn theo TCVN 7878-2:2010 đối chiếu với QCVN 26:2010/BTNMT; 02 mẫu đất theo TCVN 5297:1995 đối chiếu với QCVN 03:2015/BTNMT. Phương pháp so sánh quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được lựa chọn vì tính pháp lý bắt buộc và độ tin cậy khoa học cao trong đánh giá tải lượng ô nhiễm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học tại phường Đa Mai đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, môi trường nước bị ô nhiễm chất hữu cơ và vi sinh ở mức báo động. Nước thải từ quy trình ngâm gạo, nghiền bột và luộc bún thải trực tiếp ra hệ thống mương hở với lưu lượng lớn. Kết quả phân tích phòng thí nghiệm cho thấy chỉ số nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) tại các điểm quan trắc vượt từ 2,4 đến 78,36 lần giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT. Hàm lượng Amoni (NH4+) vượt từ 4,65 đến 10,55 lần, tổng Nitơ vượt 1,18 lần, và mật độ vi khuẩn Coliform vượt ngưỡng quy chuẩn từ 186 đến 220 lần, gây suy thoái nghiêm trọng chất lượng nguồn nước tiếp nhận.

Thứ hai, áp lực chất thải rắn và ô nhiễm tiếng ồn cục bộ gia tăng. Tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên toàn phường đạt 4,571 tấn/ngày, trong đó gần 100% không được phân loại tại nguồn khiến rác hữu cơ và vô cơ lẫn lộn, tồn ứ tại các điểm tập kết ven đường. Bên cạnh đó, việc cơ giới hóa quy trình xay bột và sử dụng máy vắt công suất lớn làm chỉ tiêu tiếng ồn tại 4 tổ dân phố làng nghề vượt từ 1,03 đến 1,22 lần quy định của QCVN 26:2010/BTNMT trong các khung giờ cao điểm từ 3 giờ sáng đến 8 giờ sáng. Ngược lại, hàm lượng kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật trong đất vẫn nằm trong ngưỡng an toàn của QCVN 03:2015/BTNMT.

Thứ ba, sự bùng phát số lượng đơn thư khiếu kiện môi trường. Năm 2016, phường ghi nhận 86 vụ tranh chấp, trong đó khiếu nại về xả nước thải chiếm áp đảo với 55 vụ (tương đương 63,95%), ô nhiễm tiếng ồn chiếm 13 vụ (15,12%), và xả rác bừa bãi chiếm 5 vụ (5,81%). Hoạt động thanh tra liên ngành trên 112 cơ sở sản xuất đã phát hiện 42 hộ (chiếm 37,5%) vi phạm hành vi xả thẳng nước thải chưa qua xử lý và 2 hộ sử dụng sai mục đích nguồn điện 3 pha.

Thứ tư, cấu trúc xung đột phân hóa thành 4 cặp quan hệ căng thẳng: xung đột giữa hộ làm bún và hộ thuần sinh hoạt; xung đột nội bộ giữa các hộ cùng làm nghề do tranh chấp lối thoát nước; xung đột giữa hoạt động chế biến với yêu cầu giữ gìn mỹ quan đô thị; và xung đột giữa cộng đồng dân cư với bộ máy quản lý tổ dân phố.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các xung đột môi trường tại Đa Mai bắt nguồn từ sự đan xen giữa khu vực sản xuất với khu dân cư mật độ cao (1.987 người/km²), hạ tầng tiêu thoát nước cũ kỹ không có trạm xử lý tập trung, và tư duy ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn của các cơ sở nhỏ lẻ.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh tương đồng với các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm tiêu biểu tại vùng đồng bằng sông Hồng. Tỷ lệ phát sinh xung đột và nguy cơ sức khỏe tại Đa Mai phản ánh rõ nét thực trạng tại làng bún Phú Đô (Hà Nội, nơi tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp là 50%) và làng nghề chế biến tinh bột Dương Liễu (Hà Nội, nơi tỷ lệ mắc bệnh lên tới 70% với các bệnh phổ biến về đường tiêu hóa chiếm 8–30% và bệnh hô hấp chiếm 6–18%). Mặc dù vậy, Đa Mai có tính liên kết cộng đồng làng xóm cao, tạo tiền đề thuận lợi cho các giải pháp thỏa hiệp xã hội nếu được hỗ trợ kỹ thuật đúng hướng.

Trong các báo cáo chuyên sâu, diễn biến ô nhiễm có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch giữa nồng độ thực tế và quy chuẩn của các thông số BOD5, Coliform, kết hợp với biểu đồ tròn phân bổ tỷ trọng 86 vụ tranh chấp môi trường theo từng nhóm nguyên nhân, giúp các nhà hoạch định chính sách nắm bắt nhanh chóng các điểm nóng xung đột.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các xung đột môi trường và thúc đẩy làng nghề bún Đa Mai phát triển bền vững, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý và quy ước cộng đồng. UBND phường Đa Mai chủ trì phối hợp với 7 tổ dân phố trong giai đoạn quý 1 đến quý 2 năm 2018 rà soát và bổ sung các điều khoản bảo vệ môi trường vào hương ước văn hóa làng nghề. Thiết lập cơ chế giám sát chéo giữa các hộ gia đình, áp dụng quy định bắt buộc đóng góp quỹ vệ sinh môi trường nội bộ để duy trì nạo vét hệ thống mương tiêu thoát nước định kỳ 3 tháng/lần.

Thứ hai, triển khai các biện pháp kỹ thuật xử lý chất thải tại chỗ. Hợp tác xã làng nghề và các hộ sản xuất, với sự hướng dẫn kỹ thuật của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Giang, cần hoàn thành việc xây dựng bể lắng lọc tách tinh bột và lắp đặt hầm Biogas composite cho 100% trong số 112 hộ làm nghề trước năm 2020. Mục tiêu kỹ thuật là giảm thiểu tối thiểu 60% hàm lượng BOD5 và COD trong nước thải sản xuất trước khi đấu nối ra cống chung. Đồng thời, các hộ làm nghề phải trang bị đệm cao su giảm chấn và vỏ bọc tiêu âm cho 100% máy nghiền gạo để triệt tiêu tiếng ồn vượt ngưỡng.

Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế hành chính. Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Giang phối hợp cùng lực lượng Cảnh sát môi trường thực hiện kiểm tra định kỳ 2 lần/năm và đột xuất tại các điểm nóng xả thải. Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ vi phạm xả thải không qua xử lý từ 37,5% xuống dưới 5% trong vòng 12 tháng, kiên quyết xử phạt nghiêm hoặc đình chỉ hoạt động các trường hợp tái phạm xả nước chua trực tiếp ra ao hồ tự nhiên.

Thứ tư, nâng cao nhận thức cộng đồng và củng cố tổ hòa giải cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Hội Phụ nữ phường Đa Mai triển khai các lớp tập huấn kỹ năng phân loại rác thải tại nguồn cho 100% hộ dân nhằm giảm tải lượng rác 4,571 tấn/ngày. Bồi dưỡng kiến thức pháp luật môi trường cho thành viên các tổ hòa giải tại 7 tổ dân phố, phấn đấu nâng tỷ lệ hòa giải thành công các tranh chấp môi trường tại chỗ lên trên 85%, hạn chế tối đa tình trạng đơn thư khiếu nại vượt cấp lên UBND thành phố.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị khoa học và thực tiễn sâu rộng, là tài liệu tham khảo thiết yếu cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, thị xã và lãnh đạo UBND cấp xã, phường. Luận văn cung cấp khung phương pháp đánh giá xung đột môi trường thực tế, giúp các nhà quản lý nhận diện sớm nguy cơ mâu thuẫn xã hội để xây dựng quy hoạch làng nghề và ban hành quy chế quản lý môi trường phù hợp với đặc thù nông thôn đổi mới.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Xã hội học Nông thôn và Kinh tế Nông nghiệp. Công trình đóng vai trò là một case study thực chứng chuẩn mực với bộ dữ liệu quan trắc chi tiết, phương pháp tính mẫu khảo sát Yamane và mô hình giải thích xung đột xã hội đa chiều.

Nhóm thứ ba là Ban quản trị Hợp tác xã, Hiệp hội làng nghề và chủ các cơ sở sản xuất chế biến lương thực thực phẩm. Tài liệu cung cấp các thông số kỹ thuật ô nhiễm thực tế và hướng dẫn giải pháp công nghệ xử lý nước chua bằng Biogas, giúp các cơ sở chủ động chuẩn hóa quy trình sản xuất, tránh các rủi ro pháp lý và tranh chấp với khu dân cư liền kề.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển cộng đồng và chuyên gia tư vấn xã hội. Nghiên cứu mang lại cái nhìn sâu sắc về phương thức thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hòa giải mâu thuẫn tài nguyên, hỗ trợ thiết kế các dự án can thiệp cộng đồng nâng cao năng lực bảo vệ môi trường nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi gây ra tình trạng xung đột môi trường tại làng nghề bún Đa Mai là gì? Xung đột nảy sinh chủ yếu do 112 hộ sản xuất bún xả trực tiếp lượng lớn nước thải có hàm lượng chất hữu cơ vượt quy chuẩn đến 78,36 lần ra hệ thống mương hở đan xen trong khu dân cư đông đúc. Sự bất bình đẳng giữa lợi ích kinh tế của hộ làm nghề và sự suy giảm chất lượng sống, sức khỏe của các hộ không làm nghề là nguồn gốc sâu xa dẫn đến các mâu thuẫn gay gắt.

Mức độ ô nhiễm môi trường nước tại phường Đa Mai được ghi nhận cụ thể như thế nào? Theo kết quả phân tích mẫu thực nghiệm đối chiếu với QCVN 40:2011/BTNMT và QCVN 08-MT:2015/BTNMT, các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ và vi sinh đều vượt ngưỡng rất cao. Cụ thể, chỉ số BOD5 vượt từ 2,4 đến 78,36 lần, Amoni vượt từ 4,65 đến 10,55 lần, tổng Nitơ vượt 1,18 lần và mật độ Coliform vượt từ 186 đến 220 lần quy chuẩn cho phép, gây bốc mùi hôi thối nồng nặc và ô nhiễm cục bộ.

Số lượng các vụ khiếu kiện môi trường tại địa bàn nghiên cứu diễn ra ở mức độ nào? Trong năm 2016, phường Đa Mai đã tiếp nhận tổng cộng 86 vụ tranh chấp và khiếu nại liên quan đến môi trường. Trong đó, khiếu kiện do xả nước thải sản xuất chiếm tỷ trọng lớn nhất với 55 vụ, ô nhiễm tiếng ồn từ máy móc chiếm 13 vụ và xả rác bừa bãi chiếm 5 vụ. Đoàn kiểm tra địa phương đã phát hiện 42 hộ trên tổng số 112 hộ sản xuất vi phạm quy định xả thải.

Công tác hòa giải và quản lý xung đột môi trường tại cơ sở hiện đang gặp những hạn chế gì? Mặc dù UBND phường Đa Mai đã bố trí cán bộ tiếp dân thường nhật và duy trì hoạt động của tổ hòa giải tại 7 tổ dân phố, hiệu quả quản lý vẫn chưa đạt yêu cầu do thiếu chế tài kinh tế đủ mạnh. Hoạt động hòa giải chủ yếu dựa vào tình làng nghĩa xóm, chưa có giải pháp công nghệ hạ tầng căn cơ và thiếu sự tham gia giám sát độc lập của các tổ chức xã hội.

Giải pháp kỹ thuật nào mang lại tính khả thi cao nhất cho các hộ sản xuất bún quy mô vừa và nhỏ? Giải pháp khả thi nhất là kết hợp bể lắng lọc sơ bộ thu hồi tinh bột lắng cặn với hầm Biogas composite yếm khí xử lý nước thải bột chua ngay tại từng hộ. Mô hình này giúp giảm thiểu trên 60% hàm lượng BOD5 và COD, tạo khí sinh học phục vụ đun nấu, kết hợp với việc lắp vỏ bọc tiêu âm cho máy nghiền gạo để xử lý triệt để tiếng ồn vượt chuẩn.

Kết luận

Công trình nghiên cứu của tác giả Nghiêm Thị Trang đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn then chốt:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và chính xác về thực trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề bún Đa Mai, xác định các thông số ô nhiễm nước thải nghiêm trọng với BOD5 vượt quy chuẩn tới 78,36 lần và lượng rác sinh hoạt phát sinh 4,571 tấn/ngày chưa qua phân loại.
  • Nhận diện và phân loại khoa học 3 dạng xung đột môi trường điển hình gồm xung đột nhận thức, xung đột mục tiêu và xung đột lợi ích thông qua 86 vụ khiếu nại thực tế trong năm 2016.
  • Làm rõ cấu trúc tương tác giữa 4 nhóm đối tượng tham gia xung đột và đánh giá khách quan năng lực giải quyết tranh chấp của bộ máy chính quyền cơ sở tại phường Đa Mai.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp hài hòa giữa công cụ quản lý hành chính, quy ước văn hóa, công nghệ kỹ thuật Biogas và nâng cao nhận thức cộng đồng.
  • Đóng góp nguồn cơ sở dữ liệu thực nghiệm nguyên bản và phương pháp tiếp cận xung đột môi trường mới mẻ cho ngành Khoa học Môi trường Việt Nam.

Về lộ trình tiếp theo, chính quyền địa phương cần khẩn trương hoàn thiện đề án quy hoạch cụm làng nghề tiểu thủ công nghiệp tập trung giai đoạn 2018–2022 nhằm di dời các cơ sở gây ô nhiễm nặng ra khỏi khu dân cư, đồng thời chuẩn hóa 100% hệ thống xử lý nước thải hộ gia đình trong vòng 24 tháng tới. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác chi tiết bộ dữ liệu quan trắc thực địa và ứng dụng hiệu quả khung giải pháp quản trị xung đột môi trường vào thực tiễn địa phương.