Chương I: Tổng quan về thực quy hoạch, xây dựng các CCN tại Việt Nam và Thủ đô Hà Nội ( sau khi mở rộng ngày 1/8/2008 ) 1.1- Một số khái niệm 1.1- Khái niệm về CCN Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập. Cụm công nghiệp hoạt động theo Quy chế này và các quy định của pháp luật liên quan. Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không quá 50 (năm mươi) ha. Trường hợp cần thiết phải mở rộng cụm công nghiệp hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vượt quá 75 (bẩy mươi lăm) ha.[1] Cụm công nghiệp là tên gọi chung của các khu, cụm, điểm công nghiệp do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch và quyết định thành lập theo quy định của Quy chế.2- Một số khái niệm khác - Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực.
Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa. Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống,. - Hệ thống hạ tầng kỹ thuật ( HTKT ) : Hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoặc là “kết cấu hạ tầng” KCN được hiểu như nhau là các công trình kỹ thuật san nền, đường giao thông , sân bãi, cung cấp điện, cung cấp nước sạch, sử lý chất thải và cung cấp các nguồn năng lượng khác.
- Hệ thống hạ tầng xã hội ( HTXH ): là hệ thống các công trình đảm bảo cho công nhân KCN về nơi ở, nghỉ ngơi, dịch vụ, thương mại, y tế, đào tạo, văn hoá, giải trí, thể thao,… - Công nghiệp mũi nhọn : là công nghiệp được ưu tiên phát triển - Diện tích đất công nghiệp : là diện tích đất của KCn đã xây dựng kết cấu hạ tầng để cho nhà đầu tư thuê, thuê lại thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh trong KCN. 9 - Hạ tầng cụm công nghiệp bao gồm hệ thống đường nội bộ, hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải, cấp điện, chiếu sáng công cộng, thông tin liên lạc nội bộ, nhà điều hành, bảo vệ và các công trình khác phục vụ hoạt động của cụm công nghiệp. - Tỷ lệ lấp đầy : là tỷ lệ giữa diện tích đất công nghiệp được thuê hoặc đăng ký thuê trên tổng diện tích đất công nghiệp - GDP danh nghĩa là tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành. Sản phẩm sản xuất ra trong thời kỳ nào thì lấy giá của thời kỳ đó.
Do vậy còn gọi là GDP theo giá hiện hành. GDP bình quân đầu người của một quốc gia hay lãnh thổ tại một thời điểm nhất định là giá trị nhận được khi lấy GDP của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm đó chia cho dân số của nó cũng tại thời điểm đó. - Trong quy hoạch xây dựng vùng, cần định hướng chiến lược phát triển không gian vùng. Các phân vùng chức năng cần được nghiên cứu bao gồm: Các đô thị và tiểu vùng hoặc điểm dân cư nông thôn; Các vùng tập trung sản xuất công nghiệp, kho tàng, khai khoáng.; Các vùng tập trung sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; Các vùng trung tâm dịch vụ (cấp vùng hoặc quốc gia, quốc tế): -Văn hóa, du lịch (bao gồm danh thắng, di tích, bảo vệ thiên nhiên, sinh thái.); -Nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí; -Y tế, bảo vệ sức khỏe; -Đào tạo, khoa học công nghệ; -Trung tâm luyện tập, thi đấu thể thao.
Các phân vùng chức năng đặc biệt khác. Đô thị là phạm vi ranh giới địa chính nội thị của thành phố, thị xã và thị trấn; bao gồm các quận và phường, không bao gồm phần ngoại thị. Không gian đô thị là toàn bộ không gian thuộc đô thị bao gồm: vật thể kiến trúc đô thị và khoảng không còn lại sau khi xây dựng ở trước, sau, trên, dưới, bên cạnh của công trình kiến trúc đô thị. - NghÒ truyÒn thèng: lµ nghÒ ®∙ ®− îc h×nh thµnh tõ l©u ®êi, t¹o ra nh÷ng s¶n phÈm ®éc ®¸o, cã tÝnh riªng biÖt, ®− îc l− u truyÒn vµ ph¸t triÓn ®Õn ngµy nay vµ cã gi¸ trÞ kinh tÕ hoÆc v¨n hãa cao.
- Lµng nghÒ truyÒn thèng: lµ lµng nghÒ cã nghÒ truyÒn thèng, cã tÝnh riªng biÖt mang ®Æc thï riªng cña ®Þa ph− ¬ng, ®− îc nhiÒu n¬i biÕt ®Õn. - Theo nghĩa hẹp thì thị trường là nơi diễn ra trao đổi, mua bán hàng hoá. Nhưng theo nghĩa rộng thì thị trường là tổng thể các mối quan hệ cạnh tranh, cung - cầu, giá cả, giá trị. mà trong đó giá cả và sản lượng hàng hoá tiêu thụ được xác định.
Thị trường có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau: theo đối tượng giao dịch, theo tính chất và cơ chế vận hành thị trường, theo quy mô, phạm vi. Trong kinh tế học những người trong lực lượng lao động là những người cung cấp lao động 10 - Khái niệm cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tùy thuộc mục tiêu của nền kinh tế. - Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng và thành phần kinh tế.
Tương ứng với 3 loại cơ cấu kinh tế ta cũng xét sự chuyển dịch của 3 cơ cấu này: - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng - Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế. + Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tất yếu phải gắn với CNH- HĐH mới sử dụng được nhiều lợi thế so sánh nước công nghiệp chậm phát triển, nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.2- Tổng quan tình hình xây dựng các CCN trên thế giới 1- Quá trình hình thành Theo Michael Porter: Cụm công nghiệp (industrial cluster) là những công ty được nối liền với nhau theo địa lý, những nhà thầu phụ, những người cung cấp dịch vụ và các thể chế hỗ trợ của chính quyền địa phương, viện trường, Hiệp hội. Stefan Kratke (2002) nghiên cứu các hoạt động kinh tế của địa phương hay vùng thông qua cấu trúc các clusters sản xuất của vùng, trong đó mỗi cluster được cấu thành bởi sự tập trung địa lý là điểm then chốt của chuỗi giá trị của một ngành công nghiệp. Chuỗi giá trị cho một ngành công nghiệp gồm các hoạt động chuẩn bị cho quá trình sản xuất, các hoạt động sản xuất (bao gồm cung ứng các máy móc thiết bị, hệ thống máy tính, nguyên vật liệu, sản xuất sản phẩm.) và các hoạt động thương mại.Porte nhấn mạnh đến chuỗi giá trị, phạm vi cạnh tranh, lợi thế so sánh của clustres, đưa ra 4 yếu tố ảnh hưởng chính: những ngành công nghiệp phụ trợ, cấu trúc công ty, chiến thuật và sự cạnh tranh.
Dựa vào lý thuyết “mô hình kim cương”của mình, M.Porte mở rộng ý tưởng thành mô hình cụm công nghiệp (CCN), như gia tăng chất lượng sản phẩm, đổi mới và tạo ra doanh nghiệp (DN) mới. Các nghiên cứu của M.Porter: Lợi thế cạnh tranh (1985) và Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia (1990, mô hình kim cương, chuỗi giá trị (value chain) và CCN phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới trong thập niên 80-90 của thế kỷ 19 là 11 tầm quan trọng của sự tích lũy công nghiệp và hệ thống phân phối của địa phương, công nghiệp vùng xuất hiện. 2-Quá trình phát triển tại một số nước Theo Markusen (1996) sự đa dạng CCN ở những nước công nghiệp hàng đầu và Hàn quốc, việc thu hút các công ty lớn, xây dựng chính sách để phát triển các ngành nghề hiện có, thúc đẩy các mối liên kết thầu phụ, cung cấp giữa các DN tại địa phương và với các DN ở ngoài địa phương. Hiện nay, Nhật dựa vào lý thuyết của M.Porter về mô hình CCN để đổi mới hệ thống kinh tế, phát triển hệ thống DN và phát triển ngành công nghiệp mới tại địa phương.
Các ngành công nghiệp mục tiêu là công nghệ sinh học, ICT, điện tử, sản xuất mới, năng lượng mới, sinh thái học và tái chế dựa vào lợi thế so sánh của từng vùng, những hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học, năng lực những nhà quản trị hay sự tích lũy công nghiệp.Tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá nền kinh tế năm 2002 là “ sự thành lập các CCN”, kế hoạch phát triển 19 CCN tạo nhiều ngành công nghiệp mơí ở địa phương và việc làm. Đầu những năm 1990, Liên Minh Châu Âu và những nước thành viên thừa nhận sự cạnh tranh yếu kém của ngành công nghiệp và dự định triển khai những biện pháp hỗ trợ hữu hiệu để tăng cường tính cạnh tranh của ngành công nghiệp Châu Âu. Những chiến lược đổi mới vùng (Regional Innovation Strategies RIS), được đưa ra vào năm 1994 và phát triển vào cuối những năm 1990, là thách thức mới để liên kết vùng, đào tạo nghề, những chính sách về DN ở địa phương. Vào những năm 2000 nền tảng cơ bản về kinh tế được quan tâm cũng như những hoạt động đổi mới, chuyển giao công nghệ, sự liên kết giữa các DN, liên kết với các viện trường và những trung tâm nghiên cứu được khuyến khích.
Những hoạt động liên kết và những sCCN được đề cập đến.3- Thực trạng quy hoạch, xây dựng các CCN tại Việt nam và Thủ đô Hà Nội 1.