Chương 1, tại mục 1. Những khái niệm và nội dung này đều được thể hiện trong các chính sách lớn của Việt Nam. Theo các trình tự thời gian, bắt đầu từ việc giảm nhẹ BĐKH, hạn chế những ảnh hưởng có hại của BĐKH, phòng và chống thiên tai, là 1 trong 9 lĩnh vực ưu tiên về môi trường trong Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2004). Công tác phòng, chống thiên tai, đảm bảo phát triển bền vững được làm rõ trong Chiến lược quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai (2007).
Trong Chiến lược quốc gia về BĐKH (2011), việc ứng phó với BĐKH, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính gắn liền với phát triển bền vững, hướng tới một nền kinh tế các-bon thấp được coi là nội dung rất quan trọng. Gần đây, trong Luật Phòng chống thiên tai (2013) những khái niệm như thiên tai, rủi ro thiên tai, phòng chống thiên tai đã được xác định cụ thể và chú trọng thực hiện ở các ngành và địa phương, dựa trên quan điểm phát triển bền vững [3,4]. Vai trò của cộng đồng trong chủ động ứng phó và phòng ngừa thiên tai, thích ứng với BĐKH cũng được đề cập trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam. Ở cấp quốc gia, Thủ tường Chính phủ (2009) đã có quyết định phê duyệt đề án nâng cao nhận thức cộng đồng về QLRRTT dựa vào cộng đồng năm 2009.
Theo đó, các tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện đề án của từng tỉnh, phụ thuộc vào tình hình thiên tai và kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh [24]. Phương châm “bốn tại chỗ”: chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ phương tiện, vật tư tại chỗ, và hậu cần tại chỗ là cách giao quyền làm chủ và trách 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm quản lý rủi ro của chính quyền và tổ chức cộng đồng cấp cơ sở. Phương châm này bắt nguồn từ kinh nghiệm trong công tác hộ đê và được mở rộng ra áp dụng cho lĩnh vực phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Quá trình thực hiện các Phương châm này bắt đầu được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 2006 (Khoản d, Mục 7, Điều 10 trong chương III của Nghị định Số: 08/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính Phủ) [6].
Khi các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai xảy ra, việc sử dụng các lực lượng sẵn có tại địa bàn để ứng cứu, hỗ trợ là nhanh nhất, hiệu quả nhất. Các lực lượng tại chỗ thường là dân quân, dân phòng, đoàn thanh niên, các đội xung kích, các lực lượng quân đội đóng trên địa bàn. Các lực lượng tại chỗ thực hiện ứng phó khẩn cấp như di dời dân chúng ở các khu vực xung yếu đến nơi trú ẩn an toàn, tham gia tìm kiếm cứu nạn., đảm bảo cung cấp các dịch vụ hậu cần như lương thực, nước sạch, thuốc men… và khắc phục hậu quả của thiên tai như làm vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh, giúp đỡ các gia đình bị nạn… [6]. Khi xảy ra thiên tai, thảm hoạ môi trường, phụ nữ thường được đợi chờ để chăm sóc những người đau ốm.
Trách nhiệm này của họ luôn có xu hướng ngày càng tăng thêm, bởi các thành viên khác trong gia đình dễ bị ốm hơn do phải đương đầu với dịch bệnh hoành hành như: sốt rét hay bệnh tả, một căn bệnh xuất phát từ nước. Việc chăm sóc này sẽ hạn chế thời gian của phụ nữ trong hoạt động tạo thu nhập. Điều này lại đi đôi với việc chi phí thuốc men tăng cao do ốm đau, làm tăng mức nghèo đói. Do đó, cũng làm giảm sự đóng góp với xã hội - giảm cả sự tham gia vào quá trình ra quyết định [46].
Mặc dù nữ giới và nam giới ở nông thôn có vai trò bổ sung cho nhau trong việc đảm bảo an ninh lương thực, nhưng vẫn thường thấy phụ nữ có vai trò lớn hơn trong việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo dinh dưỡng. Phụ nữ luôn gánh vác tất cả các khâu, từ nuôi trồng, chế biến, đến tiêu thụ các sản phẩm lương thực và các tài nguyên thiên nhiên khác. Đồng thời họ lại lo toan cả những việc chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm vườn, tìm kiếm chất đốt và nguồn nước sinh hoạt [45]. Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động nông nghiệp là rất phổ biến ở mọi địa phương, mọi cộng đồng tộc người, mọi quốc gia.
Và cũng chính vì thế, họ cũng bị tác động nhiều nhất từ biến đổi khí hậu, đặc biệt ở khu vực tiểu sa mạc Sahara – châu Phi và châu Á. Họ cũng lại gánh cả trách nhiệm thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó có cả việc ra tìm cách thay thế để nuôi sống gia đình mình [26, 27 30]. Nói chung, phụ nữ luôn là người chịu trách nhiệm chính trong việc cung ứng lượng nước sinh hoạt cho gia đình, trong đó gồm cả nước dành cho chăn nuôi nhỏ. Còn nam giới thường đảm nhiệm việc thuỷ lợi, tưới tiêu, nước cho đàn gia súc lớn hay trang trại theo kiểu công nghiệp.
Sự khác biệt 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về vai trò, trách nhiệm như thế quy định phụ nữ và nam giới có những nhu cầu và ưu tiên khác nhau liên quan đến sử dụng nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, được dự báo đến năm 2025 rằng 2/3 dân số thế giới sẽ bị thiếu nước sinh hoạt. Biến đổi khí hậu cũng dẫn đến sự gia tăng lụt lội và giảm chất lượng nước. Những điều này tác động đặc biệt tiêu cực đến phụ nữ, bởi vai trò quan trọng của họ gắn với sử dụng nước và những nguy cơ đặc thù khi có những thảm hoạ xảy ra.
Ở những khu vực dễ bị khô hạn, bị sa mạc hoá, thời gian kiếm tìm và vận chuyển nước về sẽ phải tăng lên. Như thế, phụ nữ và trẻ em (chủ yếu là các em gái) sẽ phải vất vả hơn [2,36,51]. Phụ nữ không chỉ là nạn nhân của biến đổi khí hậu, mà còn là nhân tố tích cực để giảm thiểu và thích ứng với nó. Những kiến thức và kỹ năng mà phụ nữ đang sở hữu cần được sử dụng tích cực trong những chiến lược giảm thiểu tác nhân gây biến đổi khí hậu cũng như thảm hoạ và chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu [21].
Những trách nhiệm mà phụ nữ đang gánh vác trong gia đình và cộng đồng, với tư cách là những người quản lý nguồn lực tự nhiên, đã đặt phụ nữ vào vị trí luôn phải đưa ra những chiến lược sinh kế để thích ứng với mọi biến đổi môi trường. Mặc dầu vậy, phụ nữ vẫn có xu hướng bị đứng ngoài việc ra quyết định về những vấn đề liên quan đến phát triển bền vững, trong đó bao gồm vấn đề biến đổi khí hậu. Chính điều này đã hạn chế phụ nữ đóng góp những quan điểm và năng lực đặc biệt của họ trong ứng phó với biến đổi khí hậu [9]. Tác động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan tới sức khỏe và đời sống xã hội của phụ nữ Theo các kết quả đã trình bày về những tác động của BĐKH, các nghiên cứu mới chỉ tập trung nhiều vào môi trường, sinh thái, đa dạng sinh học, còn rất ít nghiên cứu về tác động đến đời sống, sức khỏe con người, đặc biệt là phụ nữ.
Sự đóng góp của phụ nữ trong nền tảng kiến thức, hiểu biết…về BĐKH không được chú ý và quan tâm ngay cả ở cấp độ dự án quy mô vùng, đến các nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu. Trong suốt một thời gian dài, các nghiên cứu về chính sách phát triển đã bỏ qua vấn đề bình đẳng giới, và nghiên cứu về giới mới chỉ được lưu ý gần đây sau khi có báo cáo của UNDP và của IPCC vào 2007. Vấn đề về giới là vấn đề lớn liên quan đến BĐKH thể hiện ở 2 khía cạnh: Phụ nữ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, chịu tác động của BĐKH và dễ bị tổn thương hơn so với nam giới. Hơn nữa, đàn ông và phụ nữ chịu tác động rất khác nhau bởi BĐKH Khi xem xét các tác động liên quan đến vấn đề giới, các nghiên cứu cũng chỉ ra cụ thể tính dễ bị tổn thương của nhóm những người nghèo trong xã hội không chỉ do họ 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, mà còn bởi họ thiếu hiểu biết liên quan đến các giải pháp thích ứng BĐKH.
Các báo cáo cũng nói thêm rằng phụ nữ, trẻ em chịu tác động do các thảm hoạ thiên nhiên và có nguy cơ tử vong cao hơn gấp 14 lần [28]. Điều này có thể giải thích rằng vấn đề văn hoá – xã hội khi thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: các cảnh bảo về thảm hoạ ở khu vực công cộng thường khó tiếp cận đối với phụ nữ là một ví dụ. Hơn nữa trong lúc xảy ra các thảm hoạ, thiên tai do vấn đề về sức khỏe, sinh lý cũng như khả năng chống chịu kém hơn, phụ nữ thường chịu các rủi ro về sức khoẻ, tai nạn cao hơn nhiều so với nam giới. Ngoài ra, sau thảm hoạ, việc khôi phục lại cuộc sống khó khăn hơn khi họ phải đối mặt với các công việc dọn dẹp, chăm sóc y tế.
Vì các lý do trên, họ ít cơ hội tham gia vào các công việc tăng thu nhập nhưng họ lại chịu nhiều rủi ro khi có thảm hoạ. Đến năm 2030, chi phí cho bệnh tiêu chảy ở các vùng có thu nhập thấp ước tính gia tăng thêm khoảng 2-5%. Vào năm 2050, ước tính sự gia tăng hàng năm là 5-18% đối với các cộng đồng thố dân ở Úc. Các trường họp ngộ độc thực phẩm ước tính cũng sẽ tăng lên ở Vương quốc Anh khi nhiệt độ tăng từ 1-3°C [76].
Vào năm 2085, số người có nguy cơ bị bệnh sốt xuất huyết sẽ tăng lên do BĐKH, ước tính đạt khoảng 3.5 tỷ người. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chỉ rõ BĐKH là nguyên nhân gây ra khoảng 140,000 cái chết mỗi năm [76]. Trong điều kiện nghiên cứu rất khó để đưa ra được các dữ liệu chính xác về mối liên hệ giữa BĐKH và vấn đề sức khỏe con người. Tuy nhiên, các tác động của BĐKH biểu hiện thông qua hiện tượng cực đoan trở nên nghiêm trọng hơn, thiên tai, thảm họa gây tử vong cho con người, bệnh dịch bùng phát… Nhiệt độ tăng cao có thể làm gia tăng lây truyền bệnh sốt rét ở một số địa điểm.
Việc này đã gây ra 300 triệu bệnh cấp tính và giết chết gần 1 triệu người mỗi năm [76].