Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Địa điểm, thời gian, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo 3 Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm Biến đổi khí hậu Theo Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng Việt Nam: “BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tƣơng lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo” [3] Theo quan điểm của Tổ chức Khí tƣợng thế giới (WMO), BĐKH là sự vận động bên trong hệ thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong mối quan hệ tƣơng tác giữa các thành phần dƣới tác động của ngoại lực hoặc do hoạt động của con ngƣời. Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thƣờng là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Ví dụ, ấm lên hay lạnh đi.
Sự biến đổi về trạng thái khí hậu đó xảy ra do các quá trình tự nhiên hoặc do con ngƣời gây ra đối với các thành phần khí quyển. Biến đổi khí hậu mà trƣớc hết là sự nóng lên toàn cầu và nƣớc biển dâng hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI. BĐKH đã thực sự tác động đến mọi lĩnh vực, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng, kinh tế - xã hội và sức khỏe con ngƣời. Thiên tai, các hiện tƣợng thời tiết cực đoan và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan nhƣ là hệ quả của BĐKH hiện đang hoành hành ngày càng nhiều và khốc liệt ở khắp mọi nơi trên thế giới.
BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và đƣợc coi là thách thức lớn cho PTBV. Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một thời điểm và một địa điểm nhất định đƣợc xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mƣa, mây… Khí hậu - đƣợc Tổ chức Khí tƣợng thế giới (WMO) định nghĩa là trung bình theo thời gian của thời tiết (thƣờng là 30 năm) 4 Khả năng bị tổn thƣơng do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thƣơng do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH. Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại.
Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cƣờng độ phát thải khí nhà kính. Nguyên nhân của BĐKH Biến đổi khí hậu có thể do hai nguyên nhân: các quá trình tự nhiên và sự tác động của con ngƣời. BĐKH xảy ra trong quá khứ là do các nguyên nhân tự nhiên nhƣng BĐKH hiện nay là do con ngƣời. Sau cuộc tranh luận kéo dài hơn 30 năm, cho đến nay, các nhà khoa học đã có sự nhất trí cao và cho rằng trong những thập kỷ gần đây, những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực nhƣ năng lƣợng, công nghiệp, giao thông, nông - lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S và nhất là CO2) trong khí quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hƣởng tới môi trƣờng toàn cầu (Al Gore, 2006) [43] Thµnh phÇn khÝquyÓn: Carbon Dioxide CO2 Các nguồn phát thải KHK - N¨ ng l- î ng - C«ng nghiÖp - Giao th«ng Methane CH4 - N«ng nghiÖp - L©m nghiÖp - Sinh ho¹ t Nitrous Oxide NO2 H»ng ngµy cã 60 million tÊn CO2 th¶i vµo khÝquyÓn 1000 N¨ m 2000 Source: IPCC 2001 Hình 1.
Sự gia tăng phát thải khí nhà kính trong thời gian gần đây 5 Tóm lại, nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính nhƣ sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế sự BĐKH, Nghị định thƣ Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6. - CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con ngƣời gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp nhƣ sản xuất xi măng và cán thép.
- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than. - N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp. - HFCs đƣợc sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22. - PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê. Biểu hiện chính của BĐKH Biểu hiện của BĐKH rất phức tạp, bao gồm các biểu hiệu chính nhƣ sau: - Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thƣờng của thời tiết và khí hậu tăng lên; - Lƣợng mƣa thay đổi - Mực nƣớc biển dâng lên do sự tan băng ở các Cực và các đỉnh núi cao; - Các thiên tai và hiện tƣợng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán.) xảy ra với tần suất, độ bất thƣờng và c ó thể cả cƣờng độ tăng lên [18]. Tác động của BĐKH 1. Đánh giá chung BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trƣờng bao gồm cả các lĩnh vực của môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội và sức khỏe con ngƣời trên phạm vi toàn cầu.
Tuy nhiên, mức độ tác động của BĐKH có khác nhau: nghiêm trọng ở các vùng 6 có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các nƣớc nhiệt đới, nhất là các nƣớc đang phát triển công nghiệp nhanh ở châu Á. Trong đó, những ngƣời nghèo, những ngƣời ít góp phần gây ra BĐKH nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con ngƣời do BĐKH gây ra (Crutzen, 2005). Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trƣớc nguy cơ bị nƣớc biển nhấn chìm do mực nƣớc biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự tan băng ở Bắc và Nam Cực. Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu ngƣời vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nƣớc biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu ngƣời sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt.
Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nƣớc biển dâng theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Inđônêsia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippin. Nƣớc biển dâng lên còn kèm theo hiện tƣợng xâm nhập mặn vào sâu hơn trong nội địa và sự nhiễm mặn của nƣớc ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nƣớc ngọt. Tài nguyên nƣớc và sản xuất nông nghiệp cũng bị ảnh hƣởng nghiêm trọng. Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ ngƣời phải đối mặt với sự khan hiếm nƣớc, khoảng 600 triệu ngƣời sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dƣỡng do nguy cơ năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm.
Bên cạnh đó còn có khuynh hƣớng làm giảm chất lƣợng nƣớc, sản lƣợng sinh học và số lƣợng các loài động, thực vật trong các hệ sinh thái nƣớc ngọt, làm gia tăng bệnh tật, nhất là các bệnh mùa hè do vectơ truyền (IPCC 1998). Trong thời gian 20-25 năm trở lại đây, có thêm khoảng 30 bệnh mới xuất hiện. Tỷ lệ bệnh nhân, tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó sẽ có thêm khoảng 400 triệu ngƣời phải đối mặt với nguy cơ bị bệnh sốt rét (Al Gore, 2006, Stern, 2007). Dự đoán ảnh hưởng của BĐKH tới các lĩnh vực theo sự gia tăng của nhiệt độ (Stern, 2007) Số lƣợng và tổn thất do thiên tai, các hiện tƣợng thời tiết cực đoan gây ra tăng liên tục trong những thập kỷ vừa qua.
Theo số liệu thống kê, thiệt hại về kinh tế do thay đổi thời tiết và lũ lụt đã tăng gấp 10 lần trong vòng 50 năm qua. Số nạn nhân của lũ lụt do ảnh hƣởng của BĐKH trong 5 năm 1983-1987 là 31 triệu ngƣời, tăng lên đến 130 triệu ngƣời trong 5 năm của thập kỷ sau 1993-1997 (WWC, 2003; Hotz, 2006). Riêng cơn bão Mitch (1999) đã làm chết 11.000 ở trung Mỹ; cơn bão Katrina (2005) đã làm chết hơn 1.800 ngƣời ở hai bang ven biển phía Nam của Hoa Kỳ và gây tổn thất lên tới 300 tỷ USD. Sự gia tăng số lượng và thiệt hại do thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan trong 4 thập kỷ vừa qua.
Bão Katrina ở miền nam nƣớc Mỹ năm 2005 gây thiệt hại 108 tỉ đôla và giết chết khoảng 1. Cơn bão có tên đầu tiên của năm 2008 tại khu vực Bắc Ấn Độ Dƣơng, bão Nargis tại đồng bằng châu thổ Irrawaddy, Myanma đã làm hơn 60.000 ngƣời chết (dự đoán có thể lên tới 100.400 ngƣời bị thƣơng và 37.000 ngƣời mất tích. Gần đây, Siêu baõ Sandy đã quét qua Bờ Đông nƣớc Mỹ đem theo mƣa lớn, gió to và nƣớc biển dâng cao có nơi tới 4 mét, tràn vào hệ thống tàu điện ngầm tại thành phố New York, làm một trạm điện bị phát nổ, hỏa hoạn cũng đã thiêu rụi 50 căn ngôi nhà. Từ 50 đến 60 triệu ngƣời dân Mỹ bi ̣ảnh hƣởng của bão, trong đó hơn 1 triê ̣u ngƣời ở các vùng đất thấp hoặc ven biển đã phải sơ tán.
Giao thông công cô ̣ng đã bị tê liệt ở nhiều bang. Theo phân tích của công ty IHS Global Insight, với mức thiệt hại về tài sản ƣớc tính khoảng 20 tỷ USD cộng với 10-30 tỷ USD thiệt hại về kinh doanh làm ăn, bão Sandy có thể đi vào lịch sử là cơn bão gây thiệt hại nhất cho nƣớc Mỹ.