Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp với sự gia tăng nhiệt độ trung bình khoảng 0,74°C và mực nước biển dâng xấp xỉ 20 cm trong vòng 50 năm qua. Tại Việt Nam, các kịch bản khí hậu cảnh báo nếu mực nước biển dâng cao 1 m, ước tính khoảng 10% dân số sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp, 12,2% diện tích đất bị ngập, gây tổn thất tương đương 10% GDP và đe dọa nghiêm trọng an ninh lương thực khi 45% đất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đứng trước nguy cơ nhiễm mặn. Vùng Duyên hải miền Trung, đặc biệt là tỉnh Nghệ An, là khu vực thường xuyên hứng chịu các hình thái thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt và hạn hán. Điển hình như trận lũ lịch sử tháng 9 năm 2011 trên địa bàn toàn tỉnh đã làm 5 người thiệt mạng, 1.201 ngôi nhà bị ngập, 13.905 ha lúa bị chìm trong nước và gây tổng thiệt hại kinh tế ước tính 531,638 tỷ đồng.

Xã Hưng Hòa thuộc vùng ngoại thành thành phố Vinh với tổng diện tích tự nhiên 1.454,1 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 46,16% (671 ha) và diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm 20,3% (217 ha). Toàn xã có 1.841 hộ dân với 6.748 nhân khẩu, tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 17,33% (303 hộ). Đời sống người dân phụ thuộc chặt chẽ vào các hệ sinh thái ven sông Lam, khiến sinh kế địa phương vô cùng nhạy cảm trước những biến động môi trường.

Luận văn tập trung nghiên cứu xu hướng biến đổi khí hậu trong chuỗi thời gian 15 năm, đánh giá toàn diện những tổn thất kinh tế - xã hội đối với 9 xóm hành chính của xã Hưng Hòa trong giai đoạn thực địa từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2012. Ý nghĩa cốt lõi của nghiên cứu là cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và đề xuất các giải pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái, giúp củng cố năng lực chống chịu cho cộng đồng ven biển trước áp lực thiên tai ngày một gia tăng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem-based Adaptation - EbA) theo định hướng của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Ngân hàng Thế giới. Lý thuyết này khẳng định việc duy trì, phục hồi tính toàn vẹn của các hệ sinh thái tự nhiên và dịch vụ hệ sinh thái là phương thức căn bản để giảm nhẹ rủi ro khí hậu, tăng cường sức chống chịu cho hệ thống kinh tế - xã hội.

Song song đó, mô hình đánh giá tính dễ bị tổn thương và 8 nhóm giải pháp thích ứng của Burton được sử dụng làm khung phân tích hành vi ứng phó của cộng đồng, bao gồm: chấp nhận tổn thất, chia sẻ rủi ro, giảm nhẹ hiểm họa, ngăn chặn tác động, thay đổi cách sử dụng tài nguyên, thay đổi địa điểm sinh kế, nghiên cứu công nghệ mới và giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức. Các khái niệm nền tảng về biến đổi khí hậu, tính tổn thương, năng lực thích ứng và phát triển bền vững được chuẩn hóa theo quy định của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa thông qua phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA). Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Kịch bản biến đổi khí hậu năm 2011, Chiến lược quốc gia phòng chống thiên tai đến năm 2020, chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 15 năm và báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của thành phố Vinh.

Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát chọn mẫu phân tầng đại diện với quy mô 90 hộ gia đình tại 6 xóm trọng điểm gồm Khánh Hậu, Phong Hảo, Phong Thuận 1, Phong Thuận 2, Phong Yên và Hòa Lam. Cỡ mẫu được phân bổ đồng đều theo 3 nhóm mức sống: 30 hộ khá, 30 hộ trung bình và 30 hộ nghèo. Việc chọn mẫu phân tầng này đảm bảo phản ánh khách quan sự khác biệt về mức độ tổn thương và khả năng tiếp cận nguồn lực thích ứng của từng nhóm xã hội. Công cụ điều tra kết hợp phỏng vấn bán cấu trúc bảng hỏi, lập lược sử địa phương, phân tích lịch mùa vụ và 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung có sự tham gia của người cao tuổi, phụ nữ và ban quản lý hợp tác xã.

Phương pháp phân tích ma trận SWOT được áp dụng để xác định rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của cộng đồng địa phương. Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý thống kê mô tả, phân tích tương quan bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS phiên bản 16.0, đảm bảo độ tin cậy khoa học cao trong giai đoạn nghiên cứu từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát xã hội học cho thấy nhóm chủ hộ điều tra có độ tuổi trung bình 50,7 tuổi; 93,3% là nam giới và 77,8% có thời gian sinh sống tại địa phương trên 40 năm. Tỷ lệ chủ hộ có trình độ văn hóa cấp 2 chiếm 50% và cấp 3 chiếm 38,9%, trong đó 87,8% làm nông nghiệp thuần túy.

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận sự suy thoái nghiêm trọng của dải rừng ngập mặn ven đê sông Lam. Năm 1960, diện tích rừng ngập mặn tại Hưng Hòa đạt 324 ha, đóng vai trò đệm chắn sóng và bão lũ vững chắc. Tuy nhiên, sau làn sóng phá rừng đắp đầm nuôi tôm từ năm 1985, diện tích rừng ngập mặn đến năm 2010 chỉ còn lại 32 ha bần chua, tức suy giảm hơn 90%. Sự biến mất của thảm rừng ngập mặn làm sụt giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên: sản lượng khai thác tôm biển giảm mạnh từ 100 kg/ngày/thuyền trong thập niên 1980 xuống chỉ còn 3 đến 5 kg/ngày/thuyền năm 2000; sản lượng đánh bắt cá ven bờ giảm từ 1 đến 5 tấn/mẻ lưới xuống còn 5 đến 7 kg/mẻ lưới.

Thứ hai, cơ cấu thu nhập của người dân có sự dịch chuyển mạnh nhưng đi kèm nhiều rủi ro. Trước năm 1990, nghề trồng cói và dệt chiếu đứng vị trí số 1 trong cơ cấu thu nhập hộ gia đình. Do hiện tượng xâm nhập mặn gia tăng và việc chuyển đổi đất sang nuôi tôm, nghề cói dần thoái hóa, tụt xuống vị trí số 5 vào năm 2012 với diện tích co hẹp từ 80 ha xuống 65 ha, sản lượng chỉ đạt 403 tấn. Ngược lại, nghề nuôi trồng thủy sản từ vị trí không đáng kể trước năm 1990 đã vươn lên vị trí thứ 2 trong giai đoạn 2002-2012, mang lại tổng giá trị 17,04 tỷ đồng với 200 ha diện tích nuôi tôm năm 2009. Dù vậy, lĩnh vực này chịu rủi ro rất cao trước sự biến đổi nhiệt độ và suy thoái nguồn nước.

Thứ ba, biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và bộc lộ khoảng cách giới. Nhiệt độ gia tăng và các đợt nắng nóng kéo dài làm bùng phát các bệnh truyền nhiễm qua vector và nguồn nước như sốt xuất huyết, tiêu chảy, tả và thương hàn trong chuỗi số liệu theo dõi 2000-2011. Về mặt xã hội, phụ nữ chịu gánh nặng lớn trong việc chăm sóc sức khỏe gia đình và tìm kiếm nguồn nước sạch khi thiên tai xảy ra, song quyền quyết định các biện pháp sản xuất và tài chính lớn vẫn thuộc về 93,3% nam giới là chủ hộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các tổn thất kinh tế bắt nguồn từ tác động kép: biến động cực đoan của thời tiết kết hợp với sự can thiệp thiếu bền vững của con người vào hệ sinh thái. Việc chuyển đổi ồ ạt đất ngập nước sang nuôi tôm công nghiệp đã phá vỡ thế cân bằng sinh thái tự nhiên, tước đi lá chắn bảo vệ bờ biển và làm gia tăng tốc độ xói lở đất đai khi có bão lớn.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các cảnh báo của Ngân hàng Thế giới và Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên Môi trường về việc người nghèo nông thôn ven biển là đối tượng chịu tổn thương sâu sắc nhất nhưng lại sở hữu ít nguồn lực thích ứng nhất. Về mặt trình bày dữ liệu, bức tranh suy thoái sinh thái và dịch chuyển sinh kế này được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ đường thể hiện đà suy giảm diện tích rừng ngập mặn giai đoạn 1954-2010 và bảng ma trận xếp hạng thứ bậc 5 nguồn thu nhập chính qua 5 mốc thời gian từ trước năm 1990 đến năm 2012, cung cấp bằng chứng thuyết phục cho các nhà hoạch định chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế và phân tích SWOT, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm nâng cao khả năng thích ứng cho cộng đồng xã Hưng Hòa:

Thứ nhất, phục hồi và mở rộng vành đai rừng ngập mặn phòng hộ ven sông Lam. Ủy ban nhân dân xã Hưng Hòa chủ trì phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An triển khai trồng mới tối thiểu 50 ha rừng bần chua tại các bãi bồi ngoài đê trong giai đoạn 2013-2017. Mục tiêu nâng tổng diện tích rừng ngập mặn lên trên 80 ha vào năm 2020, tạo hành lang sinh thái bảo vệ đê điều và phục hồi bãi đẻ tự nhiên cho các loài thủy sản.

Thứ tư, tái cơ cấu mùa vụ và chuyển giao công nghệ sinh kế bền vững. Phòng Kinh tế thành phố Vinh phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tổ chức đào tạo kỹ thuật nuôi tôm sinh thái an toàn dịch bệnh và canh tác lúa chịu mặn cho 100% các hộ làm nông nghiệp và thủy sản. Chỉ tiêu đặt ra là giảm thiểu 30% tỷ lệ rủi ro mất mùa do sốc nhiệt và dịch bệnh trong giai đoạn 2013-2016, hỗ trợ vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để các hộ nghèo chuyển đổi việc làm.

Thứ ba, nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống công trình hạ tầng phòng chống thiên tai. Chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Nghệ An phối hợp với chính quyền thành phố Vinh đầu tư nâng cấp toàn bộ các tuyến đê xung yếu dọc sông Lam, lắp đặt cống ngăn mặn thông minh và nạo vét hệ thống kênh mương tưới tiêu cho 448,6 ha đất lúa chuyên canh. Dự án cần hoàn thành các hạng mục cấp bách trước mùa mưa bão năm 2016 nhằm bảo vệ an toàn cho khu dân cư.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức và lồng ghép bình đẳng giới trong quản lý rủi ro thiên tai. Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên xã Hưng Hòa định kỳ tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sơ cấp cứu, ứng phó bão lũ dựa vào cộng đồng từ năm 2013. Đảm bảo tỷ lệ đại biểu nữ tham gia Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp xã đạt tối thiểu 40%, tăng cường vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định ứng phó khí hậu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An, UBND thành phố Vinh): Sử dụng các số liệu thực chứng của luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu cấp địa phương, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và tích hợp giải pháp dựa vào hệ sinh thái vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể.

Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Phát triển bền vững, Quản lý tài nguyên: Tham khảo khung lý thuyết tiếp cận hệ sinh thái (EbA), phương pháp luận PRA và quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương cấp hộ gia đình phục vụ các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về vùng duyên hải nhiệt đới.

Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức tài trợ quốc tế (UNDP, WB, ADB, IUCN): Sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 90 hộ dân và lược sử sinh kế địa phương để thiết kế các chương trình tài trợ dự án thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng (CBDRM), dự án phục hồi rừng ngập mặn và hỗ trợ sinh kế cho các nhóm yếu thế.

Ban quản trị Hợp tác xã nông nghiệp và cộng đồng cư dân ven biển: Vận dụng các bài học kinh nghiệm về chuyển đổi mùa vụ, nhận biết rủi ro thời tiết cực đoan và kỹ thuật quản lý đầm nuôi thủy sản nhằm chủ động bảo vệ nguồn vốn sinh kế gia đình trước biến động môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề nhất cho lĩnh vực kinh tế nào tại xã Hưng Hòa? Sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản chịu tổn thất lớn nhất. Điển hình các trận lũ lụt năm 2011 đã gây ngập úng hàng ngàn hécta hoa màu toàn tỉnh, trong khi 200 ha đầm tôm tại Hưng Hòa thường xuyên đối mặt nguy cơ mất trắng khi nhiệt độ nước thay đổi đột ngột và độ mặn biến động, đe dọa trực tiếp nguồn doanh thu 17,04 tỷ đồng của địa phương.

Vì sao diện tích rừng ngập mặn tại địa phương bị suy giảm hơn 90%? Diện tích rừng ngập mặn suy giảm từ 324 ha năm 1960 xuống còn 32 ha năm 2010 chủ yếu do làn sóng người dân tự phát phá rừng lấy đất đắp đầm nuôi tôm từ sau năm 1985. Thêm vào đó, việc phát triển các dự án hạ tầng đô thị và ô nhiễm nguồn nước đã làm suy thoái trầm trọng quần thể cây bần chua nguyên sinh.

Nghề dệt chiếu cói truyền thống bị suy thoái do nguyên nhân cụ thể nào? Hiện tượng nước biển dâng và xâm nhập mặn sâu vào nội đồng kết hợp với việc dẫn nước mặn vào đầm nuôi tôm đã làm đất đai nhiễm mặn nặng. Cây cói không thể phát triển bình thường, khiến năng suất giảm sút, diện tích canh tác thu hẹp từ 80 ha xuống 65 ha và nghề dệt chiếu tụt từ vị trí số 1 xuống vị trí thứ 5 trong cơ cấu thu nhập.

Quy mô khảo sát 90 hộ gia đình có đảm bảo tính đại diện khoa học cho địa phương không? Quy mô 90 hộ được lựa chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên tại 6 xóm đại diện, chia đều cho 3 mức sống: 30 hộ khá, 30 hộ trung bình và 30 hộ nghèo. Với 77,8% chủ hộ đã sinh sống trên 40 năm tại địa bàn, mẫu khảo sát cung cấp nguồn dữ liệu lịch sử chuẩn xác và có giá trị đại diện cao cho toàn bộ 1.841 hộ dân trong xã.

Giải pháp thích ứng nào được đánh giá mang lại hiệu quả bền vững nhất? Thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA) với trọng tâm là phục hồi dải rừng ngập mặn ven đê sông Lam kết hợp mô hình nuôi tôm - rừng sinh thái là giải pháp tối ưu. Mô hình này vừa tái tạo lá chắn tự nhiên ngăn sóng gió bão lũ, vừa cung cấp nguồn lợi thủy sản bền vững cho cộng đồng dân cư mà không đòi hỏi chi phí bảo trì công trình quá lớn.

Kết luận

Nghiên cứu mang lại những kết luận và đóng góp học thuật nổi bật sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện diễn biến thời tiết cực đoan và kịch bản biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Nghệ An trong giai đoạn 15 năm.
  • Lượng hóa chính xác mức độ tổn thương kinh tế - xã hội của 1.841 hộ dân xã Hưng Hòa qua bộ dữ liệu thực địa 90 hộ gia đình.
  • Chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa sự suy thoái hơn 90% diện tích rừng ngập mặn và sự kiệt quệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên ven bờ.
  • Làm rõ sự suy thoái của nghề dệt chiếu cói truyền thống và tính bấp bênh của nghề nuôi tôm công nghiệp dưới tác động của xâm nhập mặn.
  • Xây dựng khung giải pháp thích ứng tích hợp dựa vào hệ sinh thái, gắn kết giữa kiên cố hóa đê điều với lồng ghép bình đẳng giới.

Về lộ trình tiếp theo, chính quyền địa phương cần nhanh chóng triển khai thí điểm mô hình sinh kế tôm - rừng ngập mặn trong giai đoạn 2013-2015, sau đó đánh giá hiệu quả để nhân rộng ra toàn bộ các xã ven biển thành phố Vinh trước năm 2020. Luận văn là lời kêu gọi hành động khẩn thiết gửi tới các cấp quản lý và nhà khoa học trong việc chung tay bảo vệ hệ sinh thái ven bờ và kiến tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.