Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng trồng phòng hộ đầu nguồn của huyện lập thạch tỉnh vĩnh phúc

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng trồng phòng hộ đầu nguồn của huyện lập thạch, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

104
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.2. Các giai đoạn xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ở Việt Nam

1.3. Các công trình nghiên cứu rừng phòng hộ ở Việt Nam

1.4. Mục tiêu, nhiệm vụ, các giai đoạn của trồng rừng phòng hộ (Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (dự án 661))

1.5. Một số nhận xét và đánh giá chung

1.6. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu chung

2.2. Mục tiêu cụ thể

2.3. Phạm vi nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.4.1. Nghiên cứu thực trạng hệ thống rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

2.4.2. Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

2.4.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và chức năng phòng hộ của rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Nghiên cứu thực trạng hệ thống rừng trồng phòng hộ đầu nguồn của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

2.5.2. Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

2.5.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm đánh giá hiện trạng rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình, địa chất và đất đai

3.1.3. Khí hậu, thuỷ văn

3.2. Đặc điểm cơ bản về kinh tế xã hội

3.2.1. Dân số, dân tộc và cơ cấu lao động

3.2.2. Tình hình phát triển kinh tế chung

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thực trạng hệ thống rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

4.1.1. Đặc điểm diện tích rừng trồng phòng hộ huyện Lập Thạch

4.1.2. Đặc điểm biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

4.1.3. Đặc điểm sinh trưởng của các mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

4.2. Hiệu quả tổng hợp của các mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

4.2.1. Hiệu quả kinh tế của các mô hình

4.2.2. Đánh giá hiệu quả môi trường

4.2.3. Đánh giá hiệu quả xã hội

4.3. Giải pháp để xây dựng cơ cấu canh tác hợp lý cho rừng phòng hộ đầu nguồn

4.3.1. Căn cứ để xác định giải pháp kỹ thuật lâm sinh

4.3.2. Đề xuất các giải pháp

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý Rừng Trồng Phòng Hộ Đầu Nguồn Tại Lập Thạch

Rừng trồng phòng hộ đầu nguồn tại huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và điều tiết nguồn nước. Việc quản lý rừng trồng không chỉ giúp bảo vệ đa dạng sinh học mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, thực trạng quản lý rừng hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.

1.1. Vai Trò Của Rừng Trồng Phòng Hộ Đầu Nguồn

Rừng trồng phòng hộ đầu nguồn có tác dụng lớn trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn và điều tiết nước. Các nghiên cứu cho thấy rằng rừng phòng hộ giúp duy trì độ ẩm và cải thiện chất lượng đất.

1.2. Tình Hình Quản Lý Rừng Trồng Hiện Nay

Quản lý rừng trồng tại Lập Thạch đang đối mặt với nhiều thách thức như xói mòn đất, mất đa dạng sinh học và áp lực từ phát triển kinh tế. Cần có các biện pháp hiệu quả để cải thiện tình hình này.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Quản Lý Rừng Trồng Phòng Hộ

Mặc dù rừng trồng phòng hộ đầu nguồn có nhiều lợi ích, nhưng việc quản lý chúng gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như xói mòn đất, biến đổi khí hậu và áp lực từ con người đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng rừng.

2.1. Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Rừng

Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi mô hình thời tiết, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây rừng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiệt độ tăng cao và lượng mưa không ổn định có thể làm giảm khả năng phòng hộ của rừng.

2.2. Áp Lực Từ Phát Triển Kinh Tế

Sự phát triển kinh tế nhanh chóng tại địa phương đã dẫn đến việc khai thác rừng không bền vững. Điều này không chỉ làm giảm diện tích rừng mà còn ảnh hưởng đến chức năng phòng hộ của chúng.

III. Phương Pháp Quản Lý Rừng Trồng Phòng Hộ Hiệu Quả

Để nâng cao hiệu quả quản lý rừng trồng phòng hộ, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển bền vững là rất cần thiết.

3.1. Ứng Dụng Công Nghệ Trong Quản Lý Rừng

Công nghệ GIS và viễn thám có thể giúp theo dõi tình trạng rừng và phát hiện sớm các vấn đề như xói mòn đất. Việc áp dụng công nghệ sẽ nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ rừng.

3.2. Các Giải Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học

Bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những mục tiêu quan trọng trong quản lý rừng. Cần có các biện pháp bảo vệ các loài cây và động vật quý hiếm trong khu vực rừng trồng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Các nghiên cứu về rừng trồng phòng hộ đầu nguồn đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực trong việc cải thiện chất lượng rừng và bảo vệ môi trường. Những mô hình quản lý hiệu quả đã được áp dụng và mang lại lợi ích cho cộng đồng.

4.1. Kết Quả Từ Các Mô Hình Quản Lý

Nhiều mô hình quản lý rừng trồng đã được triển khai thành công, giúp tăng cường độ che phủ rừng và cải thiện chất lượng đất. Các mô hình này cần được nhân rộng để đạt hiệu quả cao hơn.

4.2. Tác Động Đến Cộng Đồng Địa Phương

Việc quản lý rừng trồng không chỉ mang lại lợi ích về môi trường mà còn tạo ra việc làm cho người dân địa phương. Các chương trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cần được triển khai để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho cộng đồng.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Quản Lý Rừng Trồng

Quản lý rừng trồng phòng hộ đầu nguồn tại huyện Lập Thạch cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ và hiệu quả.

5.1. Định Hướng Phát Triển Trong Tương Lai

Cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển rừng trồng bền vững. Việc xây dựng các chương trình hợp tác giữa các bên liên quan sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý rừng.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Và Nhận Thức

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của rừng trồng phòng hộ là rất cần thiết. Các hoạt động truyền thông và giáo dục sẽ giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ rừng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

30/06/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng trồng phòng hộ đầu nguồn của huyện lập thạch tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu là quy hoạch vùng đất xây dựng hệ thống rừng phòng hộ lưu vực sông Đà và thuỷ điện Hoà Bình (1989). Tiếp đó, hàng loạt các Dự án xây dựng rừng phòng hộ khác cũng được phê duyệt và triển khai. - Giai đoạn 1995 - 1998 ghi nhận sự đổi mới và đầu tư lớn về kinh phí vào trồng rừng phòng hộ trong phạm vi cả nước theo Chương trình 327. Đến ngày 12/9/1995 bằng Quyết định số: 556 - TTg của Thủ tướng Chính phủ đã giới hạn Chương trình 327 thành Chương trình Quốc gia về “Bảo vệ, khôi phục rừng phòng hộ, rừng đặc dụng” và cũng từ đây quy định cụ thể về phương thức, kỹ thuật, loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn được quy định cụ thể hơn.

Nhiều mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn có hiệu quả đã được xây dựng thành công trong phạm vi cả nước. - Giai đoạn 1998 đến nay: việc xây dựng RPHĐN được thực hiện theo Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, trong đó khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng phòng hộ và đặc dụng là 1 triệu ha, trồng mới 1 triệu ha (tổng cộng là 2 triệu ha). Vũ Tiến Hinh (1995) [13] qua nghiên cứu đã cho thấy mật độ lâm phần có ảnh hưởng rõ nét đến sản lượng, đặc biệt là đến sinh trưởng đường kính. Do đó, tác giả lưu ý việc tìm hiểu quy luật biến đổi của mật độ, vì đây là cơ sở xác định biện pháp tác động hợp lý để lâm phần đạt sản lượng cao nhất.

Các loài cây bản địa chưa được các tác giả, nhà nghiên cứu chú ý đến. Hầu hết các tác giả mới chỉ tập trung vào nghiên cứu sâu về các loài cây sinh trưởng mạnh, nhập ngoại phục vụ cho mục đích kinh doanh gỗ. Các nghiên cứu về các loài cây bản địa còn ít nếu có thì mới chỉ dừng ở mức: nghiên cứu về hình thái, phân loại và làm giàu rừng, còn ít công trình nghiên cứu sâu về 8 tình hình sinh trưởng nhất là các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng và điều kiện lập địa, nghiên cứu về các biện pháp quản lý chất lượng rừng đề tài nghiên cứu còn hạn chế. Các công trình nghiên cứu rừng phòng hộ ở Việt Nam Nghiên cứu về xói mòn đất là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng rừng phòng hộ.

Ở nước ta vấn đề này được nhiều tác giả rất quan tâm. Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) thì vấn đề xói mòn đất đã bắt đầu được quan tâm ở nước ta từ trước năm 1954, bước đầu mới chỉ là những biện pháp chống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè, cống. Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và cho ra đời nhiều công trình khoa học có giá trị về xói mòn đất như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Cao Văn Vinh về ảnh hưởng của độ dốc tới xói mòn đất, góp phần đề ra các chỉ tiêu và quy chế bảo vệ, sử dụng và khai thác đất dốc; Tôn Gia Huyên (1967), Chu Đình Hoàng, Nguyễn Xuân Quát, Bùi Ngạnh (1963) đã tập trung nghiên cứu ở vùng Tây Bắc, Bắc Thái, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai về biện pháp và công trình trồng cây phân xanh che phủ đất; nghiên cứu của Chu Đình Hoàng và Đào Khương về những nét đặc trưng chủ yếu của xói mòn vùng khí hậu nhiệt đới Việt Nam. Nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được áp dụng, xây dựng hàng loạt các khu quan trắc xói mòn định vị bằng xi măng, gạch, gỗ, kim loại như trạm nghiên cứu xói mòn An Châu (Hữu Lũng - Lạng Sơn), trạm Ekmat (Buôn Mê Thuột), trạm nghiên cứu xói mòn đất Tây Nguyên [17].

Đối với đất vùng đầu nguồn tỉnh Hoà Bình [17], các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc sử dụng hợp lý đất dốc và những biện pháp bảo vệ nó. Tiêu biểu như nghiên cứu về Canh tác trên đất dốc của Ngô Đình Quế - Đinh Văn Quang (1998); Nghiên cứu tính chất rừng bảo vệ đất của Nguyễn Hải Tuất, Vương Văn Quỳnh và Hà Quang Khải. Quan điểm chung được các nhà 9 nghiên cứu xác định là trong điều kiện địa hình dốc, khả năng bảo vệ đất của rừng chủ yếu là khả năng chống lại xói mòn đất. Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ làm cơ sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng được nhiều tác giả quan tâm.

Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã công bố công trình “Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước”. Trong đó, các tác giả đã đánh giá được năng lực phòng hộ của một số dạng cấu trúc thảm thực vật rừng về mặt chống xói mòn và điều tiết nguồn nước. Trên cơ sở đó đề xuất những mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn có cấu trúc hợp lý. Một số tác giả lại tập trung nghiên cứu vai trò điều tiết nguồn nước, xói mòn của rừng, ảnh hưởng của thảm thực vật tới dòng chảy của các con sông [11] như công trình của Nguyễn Viết Phổ (1992), Vũ Văn Tuấn (1997, 1981),… Những nghiên cứu này đã cho ta thấy vai trò điều tiết nước rất hữu hiệu của thảm thực vật rừng, đặc biệt là việc cung cấp nước cho các con sông, suối vào mùa khô, dòng chảy kiệt ở những vùng có rừng cao hơn những vùng không có rừng.

Theo Nguyễn Anh Dũng (2006) [1], thì ở nước ta hiện nay có 2 giải pháp kỹ thuật chủ yếu để phục hồi và phát triển rừng, đó là trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung. Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở nước ta đã đặt ra từ rất sớm, vào khoảng những năm 1950 sau khi miền Bắc được giải phóng, vấn đề này được đề cập đến trong thuật ngữ “Khoanh núi, nuôi rừng”. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà trong một thời gian rất dài sau đó người ta chỉ chú ý đến khai thác rừng tự nhiên là chính. Mãi đến những năm 1990, cái được gọi là “Khoanh núi, nuôi rừng” mới được định hình và phát triển theo cụm thuật ngữ 10 “Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”.

Điều này được thể hiện trong 2 quy phạm ngành QPN 14 - 92 và QPN 21 - 98. Trồng rừng phòng hộ là giải pháp duy nhất để khôi phục rừng trên những vùng đất trống, đồi núi trọc, đất rừng đã bị thoái hoá. Trong đó việc lựa chọn những loài cây trồng là một khâu rất được chú ý vì nó góp phần quyết định đến khả năng phòng hộ của rừng. Sau nhiều năm tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn, một danh sách gồm 34 loài cây trồng rừng phòng hộ đã được đề xuất cho trồng rừng phòng hộ trên cả nước.

Hoàng Liên Sơn và các cộng tác viên (2005) đã tổng kết và đưa ra danh sách 50 loài cây chia thành 4 nhóm chính được sử dụng cho trồng rừng phòng hộ trong Dự án 661 trên phạm vi toàn quốc [13]. Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát và Đào Công Khanh (1997) [11], đã nghiên cứu xác định chủng loại cây bản địa phục vụ cho trồng rừng phòng hộ ở một số vùng trọng điểm. Trên cơ sở tiêu chuẩn cây bản địa đưa vào trồng rừng phòng hộ là phải phù hợp với tiểu vùng sinh thái, kết hợp được với nhau, có tác dụng phù trợ lẫn nhau, giữ gìn điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, giữ đất, sống lâu năm, tán lá dày, rậm và thường xanh, bộ rễ phát triển sâu,…các tác giả đã đưa ra mô hình trồng rừng phòng hộ dự tuyển cho 7 vùng sinh thái lâm nghiệp trên cả nước. Trong đó, vùng Tây Bắc có 2 mô hình là: - Thông 3 lá + Táo mèo: 1 hàng (3x2)m + 1 hàng (3x2)m.

- Long não + Trẩu ta: rạch 1 hàng (9x2)m + băng 2 hàng (3x2)m. Võ Đại Hải (2000) [11], trong khi nghiên cứu những giải pháp cho quản lý và xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên đã đưa ra một số mô hình phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn khá thành công là các mô hình tại Kbang - Sơ Pai tiểu vùng Kon Hà Nừng; mô hình trên Quốc lộ 22 gần huyện Kông - Plông miền Đông Kon Tum; mô hình ở Tỉnh Lộ 674 Phú Thiệu - Krông cho vùng Đông Nam Pleiku; mô hình gần Quốc lộ 20 vùng hồ Thuỷ 11 Tiên - Đà Lạt. Đây đều là các đối tượng rừng sau khai thác kiệt và rừng phục hồi sau nương rẫy. Sau khi áp dụng khoanh nuôi có trồng sung các đối tượng rừng trên đều phục hồi rất tốt.

Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2005) [11], Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn. Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số có tới 188 mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài cây và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình. Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có thể chia các mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn thành 4 nhóm chính là cây bản địa trồng thuần loài và cây bản địa hỗn giao với cây phù trợ; các loài Thông trồng thuần loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Keo trồng thuần loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Tre, Luồng trồng thuần loài. Trong những năm gần đây, các mô hình này đã đa dạng và được phát triển rộng hơn ở nhiều tỉnh.

Ngoài ra, rừng Tre, Luồng có khả năng chống xói mòn tốt do rụng nhiều và khó phân huỷ, rễ cây nhiều chủ yếu phân bố bề mặt đất nên che phủ đất tốt. Vấn đề nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng trong các phương thức trồng rừng cũng đã được quan tâm [3]. Đặc biệt là phương thức trồng rừng hỗn loại: các nhà lâm học người Pháp và người Việt từ đầu thế kỷ tới nay đã không ngừng thử nghiệm trồng rừng hỗn loại ở nhiều vùng với nhiều loài cây, nhiều phương thức. Tuy vậy kết quả còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được đưa vào sản xuất với các quy mô.

Năm 1990 Hoàng Minh Giám và cộng sự [6] theo dõi tiếp công trình của Cao Thọ Ứng năm 1986, cây trồng thí nghiệm 55 tháng tuổi, nhận thấy: Ở 12 tuổi 1 và tuổi 2, mật độ chưa ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng nhưng đến 55 tháng tuổi thì ảnh hưởng rõ rệt hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá và Giải Pháp Quản Lý Rừng Trồng Phòng Hộ Đầu Nguồn Tại Huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý rừng trồng tại khu vực này, nhấn mạnh tầm quan trọng của rừng trong việc bảo vệ nguồn nước và môi trường. Tài liệu không chỉ đánh giá hiện trạng mà còn đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng quản lý rừng, từ đó góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện cư mgar tỉnh đắk lắk, nơi đề cập đến việc sử dụng đất nông nghiệp một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp đánh giá thực hiện dự án trồng rừng tại các tỉnh thanh hoá và nghệ an sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các dự án trồng rừng và tác động của chúng đến kinh tế địa phương. Cuối cùng, tài liệu Luận văn đánh giá tình hình xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi lợn ba vì cũng là một nguồn thông tin quý giá về quản lý chất thải trong nông nghiệp, liên quan đến bảo vệ môi trường.

Những tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin bổ ích mà còn mở ra cơ hội để bạn tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề quản lý tài nguyên và môi trường hiện nay.