Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Ba là mạng lưới thủy văn lớn nhất khu vực miền Trung Việt Nam với tổng diện tích lưu vực tự nhiên lên tới 13.900 km² và chiều dài dòng chính đạt 374 km. Hệ thống sông trải dài qua địa giới hành chính của 20 huyện, thị xã và 1 thành phố thuộc 4 tỉnh gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên, hàng năm cung cấp nguồn tài nguyên nước dồi dào với tổng lượng dòng chảy tại cửa ra Đà Rằng vượt mức 10 tỷ m³. Nguồn nước này giữ vai trò sống còn đối với sự phát triển kinh tế sinh kế của hàng triệu người dân, đồng thời cấp nước tưới cho hơn 425.334 ha đất sản xuất nông nghiệp và duy trì hệ sinh thái cho gần 1,7 triệu ha đất lâm nghiệp toàn vùng.

Tuy nhiên, áp lực từ tốc độ gia tăng dân số với sự phân bố mật độ chênh lệch sâu sắc giữa vùng hạ lưu như thành phố Tuy Hòa (đạt 2.451 người/km²) và các huyện vùng cao thượng nguồn như Kon Plông (chỉ 15 người/km²), kết hợp với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng đã tạo nên sức ép môi trường nghiêm trọng. Hàng loạt cơ sở sản xuất công nghiệp tập trung như các nhà máy mía đường quy mô từ 1.800 đến 4.000 tấn mía cây/ngày, nhà máy chế biến tinh bột sắn công suất 12.500 tấn sản phẩm/năm, các cơ sở khai thác tuyển quặng và hơn 7.436 tấn thủy sản nuôi trồng nước lợ hàng năm liên tục xả lượng lớn nước thải chưa qua xử lý triệt để trực tiếp vào lòng sông. Thực trạng đó dẫn đến hiện tượng ô nhiễm hữu cơ và phú dưỡng hóa cục bộ, làm suy giảm nghiêm trọng chỉ số chất lượng nước tại nhiều phân đoạn dòng chảy chính.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt, phân tích quy luật diễn biến không gian - thời gian của các thông số ô nhiễm, làm rõ các nguyên nhân nhân sinh và tự nhiên, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ nhằm bảo vệ bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Ba. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn kéo dài trên 30 năm (giai đoạn 1978 - 2011) kết hợp khảo sát thực địa chuyên sâu năm 2011. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết, cung cấp cơ sở dữ liệu nền tảng phục vụ việc kiểm soát tải lượng phát thải, hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 30% đến 50% nồng độ các chất gây ô nhiễm hữu cơ (BOD5, COD) và vi sinh (Coliform), đưa chất lượng nước toàn lưu vực đáp ứng các tiêu chuẩn phục vụ sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên lý Quản lý Tổng hợp Tài nguyên Nước (IWRM) được thông qua tại Hội nghị Quốc tế Dublin (1992) và Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21), trong đó khẳng định lưu vực sông là một thực thể tự nhiên thống nhất, đòi hỏi sự tiếp cận liên ngành và liên vùng trong việc quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết lan truyền chất ô nhiễm và cơ chế tự làm sạch của dòng chảy sông ngòi phụ thuộc vào các điều kiện thủy văn như lưu lượng dòng kiệt, độ dốc lưu vực và hàm lượng oxy hòa tan.

Hệ thống khái niệm chuyên ngành then chốt được vận dụng xuyên suốt gồm:

  • Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI): Công cụ toán học tích hợp cho phép quy đổi các giá trị đo đạc của nhiều thông số lý hóa, vi sinh phức tạp về một thang điểm định lượng từ 0 đến 100 nhằm phản ánh mức độ ô nhiễm tổng thể của nguồn nước.
  • Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) và Nhu cầu oxy hóa học (COD): Các chỉ số phản ánh hàm lượng các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học và tổng lượng hợp chất hữu cơ cần bị oxy hóa trong môi trường nước.
  • Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và Độ đục: Các thông số biểu thị lượng hạt khoáng sét, bùn cát lơ lửng sinh ra do quá trình phong hóa, xói mòn bề mặt đất dốc và hoạt động khai khoáng.
  • Hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08:2008/BTNMT): Khung pháp lý phân chia chất lượng nước thành 4 mức mục đích sử dụng gồm A1, A2, B1 và B2.

Phương pháp nghiên cứu

Mạng lưới khảo sát thực địa được thiết lập đồng bộ với cỡ mẫu gồm 10 vị trí quan trắc trọng điểm (kể từ ký hiệu BB1 tại Cảng phường Sáu - TP. Tuy Hòa ngược dòng lên BB10 tại cầu Sông Ba - TX. An Khê) trải dài 374 km trên toàn tuyến dòng chính. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo phân vùng chức năng được áp dụng nhằm thu thập dữ liệu đại diện tại các khu vực chịu áp lực xả thải công nghiệp, hợp lưu các phụ lưu lớn (sông Ayun, sông Krông H'Năng, sông Hinh) và các vùng đô thị đông dân cư.

Quy trình thu thập và phân tích mẫu nước được chuẩn hóa theo Tiêu chuẩn Phương pháp chuẩn kiểm tra nước và nước thải của Hoa Kỳ (Standard Methods, 1995) và quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường:

  • Thu mẫu tại hiện trường: Mẫu nước được lấy ở 3 vị trí mặt cắt ngang (bờ trái, giữa dòng, bờ phải) tại các tầng sâu khác nhau bằng thiết bị lấy mẫu chuyên dụng Van Deers, đảm bảo tính đại diện và kiểm soát sai số. Các thông số nhiệt độ, pH và hàm lượng oxy hòa tan (DO) được đo đạc trực tiếp tại hiện trường bằng máy đo chuyên dụng đa chỉ tiêu.
  • Phân tích phòng thí nghiệm: Bộ số liệu mẫu nước được phân tích chuyên sâu với 22 chỉ tiêu hóa lý và vi sinh theo các quy trình chuẩn.
  • Phương pháp tính toán WQI: Triển khai theo hướng dẫn tại Quyết định số 879/QĐ-TCMT của Tổng cục Môi trường. Công thức tính toán tích hợp trọng số của 4 nhóm thông số gồm WQI_a (DO, BOD5, COD, N-NH4+, P-PO43-), WQI_b (TSS, độ đục), WQI_c (Tổng Coliform) và WQI_pH, từ đó phân loại chất lượng nước theo 5 dải màu quy ước từ Ô nhiễm nặng (0 - 25) đến Sử dụng rất tốt cho sinh hoạt (91 - 100).
  • Phương pháp Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) và Thống kê: Xử lý chuỗi số liệu thủy văn 1978 - 2011 từ 9 trạm thủy văn (Củng Sơn, An Khê, Ayun Pa, Sông Hinh...) kết hợp phần mềm Excel và nền tảng GIS để số hóa dữ liệu không gian, xây dựng các biểu đồ biến trình nồng độ và bản đồ phân vùng chất lượng nước trực quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu quan trắc năm 2011 kết hợp chuỗi dữ liệu lịch sử đã ghi nhận các phát hiện then chốt về môi trường nước lưu vực sông Ba:

Thứ nhất, nồng độ ô nhiễm hữu cơ và chất dinh dưỡng vượt ngưỡng cục bộ tại các khu vực đô thị và chế biến nông nghiệp. Tại các điểm quan trắc quanh thị xã An Khê (BB8, BB9, BB10) và vùng hạ lưu thành phố Tuy Hòa (BB1, BB2), các chỉ tiêu BOD5 và COD tăng cao vượt giới hạn cột A1 của QCVN 08:2008/BTNMT từ 1,3 đến 2,5 lần. Hàm lượng nitơ amoni (N-NH4+) và phosphat (P-PO43-) tại khu vực tiếp nhận nước thải công nghiệp mía đường và chế biến sắn có xu hướng gia tăng rõ rệt so với đoạn thượng nguồn tự nhiên.

Thứ hai, sự phân hóa chất lượng nước sâu sắc theo chế độ thủy văn mùa lũ và mùa kiệt. Lưu vực sông Ba chịu sự chi phối của 3 vùng khí hậu (Tây Trường Sơn, Đông Trường Sơn và vùng trung gian) với hệ số biến động dòng chảy Cv từ 0,33 đến 0,44. Trong mùa kiệt kéo dài từ 7 đến 9 tháng, lượng dòng chảy chỉ chiếm từ 25% đến 35% tổng lượng nước cả năm (trong khi mùa lũ 3 - 5 tháng chiếm từ 65% đến 75%). Sự sụt giảm lưu lượng dòng chảy cơ bản đã làm suy giảm mạnh mẽ khả năng tự làm sạch của sông Ba, khiến giá trị chỉ số WQI tại các điểm nóng mùa khô sụt giảm xuống mức 51 - 75 (màu Vàng - chỉ đáp ứng mục đích tưới tiêu) và cục bộ chạm ngưỡng 26 - 50 (màu Da cam).

Thứ ba, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) và độ đục biến thiên cực kỳ lớn do xói mòn đất và khai thác khoáng sản. Chuỗi quan trắc tại trạm Củng Sơn cho thấy độ đục bình quân mùa lũ đạt 200 - 300 g/m³, cao gấp hàng chục lần so với tháng kiệt nhất (chỉ 3,1 g/m³). Với lượng ngậm cát bình quân 70 - 180 g/m³, mỗi năm sông Ba vận chuyển ra biển khối lượng bùn cát khổng lồ cùng dòng chảy 283 m³/s, chịu tác động tiêu cực từ tỷ lệ che phủ rừng còn thấp (chỉ dao động từ 31,8% đến 47,2% tại Phú Yên và Đắk Lắk) kết hợp hoạt động xả bùn lắng chưa qua lọc từ các mỏ tuyển quặng.

Thứ tư, ô nhiễm vi sinh vật nghiêm trọng tại vùng cửa sông hạ lưu. Tại điểm quan trắc BB1 (Cảng phường Sáu) và BB2 (Cầu Đà Rằng), mật độ Coliform tổng số tăng đột biến, vượt giới hạn cho phép của chuẩn A2 nhiều lần do tiếp nhận trực tiếp nguồn phân chuồng từ đàn gia súc hơn 6,6 triệu con toàn vùng và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý từ các khu dân cư ven sông.

Thảo luận kết quả

Sự biến động chất lượng nước lưu vực sông Ba phản ánh mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa phương thức phát triển kinh tế và tính chất nhạy cảm tự nhiên của lưu vực. Về mặt hoạt động sản xuất, ngành công nghiệp chế biến nông sản tạo áp lực tải lượng cực lớn. Với 3 nhà máy đường tại Phú Yên đạt tổng công suất 7.500 tấn mía cây/ngày, nhà máy đường An Khê công suất 4.000 tấn mía cây/ngày, cùng các nhà máy bia (Sài Gòn - Phú Yên công suất 10 triệu lít/năm) và xí nghiệp chế biến sắn, lưu lượng nước thải hữu cơ đậm đặc xả ra là nguyên nhân chính đẩy nồng độ COD tại các cống xả lên cao.

Dữ liệu chất lượng nước có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua việc xây dựng biểu đồ đường biến trình thể hiện mối tương quan nghịch biến giữa nồng độ COD và hàm lượng oxy hòa tan DO theo chiều dài dòng chảy chính. Đồ thị cho thấy rõ các điểm đáy suy giảm DO (xuống dưới 4 mg/l) trùng khớp với vị trí đặt các cống xả nước thải công nghiệp tại An Khê và cửa xả đô thị Tuy Hòa. Bên cạnh đó, việc lập bảng ma trận phân loại WQI kết hợp bản đồ số hóa không gian trên hệ thống GIS làm nổi bật sự chuyển dịch màu sắc từ Xanh nước biển (chất lượng tốt) ở thượng lưu sang dải Vàng và Da cam ở trung - hạ lưu.

Ngoài áp lực xả thải, sự hình thành các công trình thủy điện - thủy lợi quy mô lớn như hồ Ayun Hạ (mặt hồ 3.700 ha) và hồ Sông Hinh (mặt hồ 4.100 ha) đã chia cắt dòng chảy tự nhiên. Việc tích nước trong mùa kiệt làm lưu lượng hạ lưu đập suy giảm mạnh, trong khi lưu lượng xả duy trì dòng chảy môi trường chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm gia tăng thời gian lưu giữ chất ô nhiễm trong lòng dẫn. So sánh với các nghiên cứu tương tự tại lưu vực sông Cầu hay hệ thống sông Đồng Nai, hiện trạng ô nhiễm sông Ba mang tính chất cục bộ theo mùa nhưng tiềm ẩn nguy cơ suy thoái nhanh nếu không kiểm soát kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi và bảo vệ bền vững chất lượng môi trường nước lưu vực sông Ba, hệ thống giải pháp công trình và phi công trình cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, kiểm soát và xử lý triệt để các nguồn thải công nghiệp tại nguồn. Ban hành quy định bắt buộc 100% các nhà máy mía đường (công suất 1.800 - 4.000 tấn mía/ngày), nhà máy chế biến tinh bột sắn (12.500 tấn/năm) và các cơ sở trong khu công nghiệp (như KCN Hòa Phú quy mô 181 ha, KCN Trà Đa) phải hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải đạt QCVN 40:2011/BTNMT trước năm 2015. Mục tiêu đặt ra là cắt giảm tối thiểu 40% tải lượng BOD5 và COD phát thải ra lưu vực. Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Gia Lai, Phú Yên, Đắk Lắk.

Thứ hai, đầu tư xây dựng hạ tầng thu gom và xử lý nước thải đô thị tập trung. Triển khai xây dựng các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tại thành phố Tuy Hòa (nơi có 80% dân cư đô thị, mật độ 2.451 người/km²) và thị xã An Khê với tổng công suất thiết kế từ 15.000 đến 30.000 m³/ngày-đêm trong giai đoạn 2012 - 2018. Giải pháp này nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm vi sinh vật và chất hữu cơ tại các đoạn sông chảy qua đô thị. Cơ quan chủ trì: UBND các tỉnh và Sở Xây dựng địa phương.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới quan trắc tự động và cảnh báo sớm. Lắp đặt 4 trạm quan trắc chất lượng nước tự động, liên tục tại các vị trí xung yếu gồm An Khê, Ayun Pa, Củng Sơn và thành phố Tuy Hòa trong giai đoạn 2012 - 2015. Hệ thống vận hành 24/7 truyền dữ liệu thời gian thực về trung tâm điều hành, giúp phát hiện tức thì các sự cố xả thải vượt chuẩn và theo dõi liên tục các chỉ số DO, pH, COD, TSS. Đơn vị thực hiện: Chi cục Bảo vệ Môi trường 4 tỉnh lưu vực sông Ba.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp và vận hành liên hồ chứa. Thành lập Ủy ban Điều phối Quản lý Tổng hợp Lưu vực sông Ba nhằm thống nhất cơ chế chia sẻ thông tin và điều tiết nguồn nước liên tỉnh. Xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa đối với hệ thống hồ Ayun Hạ, hồ Sông Hinh và hồ Ba Hạ, đảm bảo xả lưu lượng dòng chảy môi trường tối thiểu mùa cạn duy trì từ 15 đến 25 m³/s để pha loãng chất ô nhiễm và chống xâm nhập mặn. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp Bộ Nông nghiệp & PTNT và UBND 4 tỉnh.

Thứ năm, ứng dụng công cụ kinh tế và phục hồi thảm phủ rừng đầu nguồn. Tăng cường thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và khai thác khoáng sản; trích lập quỹ bảo vệ môi trường lưu vực sông. Đồng thời, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng từ mức bình quân 33,8% - 47,2% lên trên 55% thông qua khoán bảo vệ 1,7 triệu ha đất lâm nghiệp trước năm 2020, hạn chế xói mòn và giảm thiểu tải lượng bùn cát 228 g/m³ đổ vào lòng sông. Đơn vị thực hiện: Quỹ Bảo vệ Môi trường và Sở Nông nghiệp & PTNT các địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và quy hoạch: Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường các tỉnh Phú Yên, Gia Lai, Đắk Lắk, Kon Tum. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để phân vùng chức năng tiếp nhận nước thải, hoạch định hạn ngạch xả thải và xây dựng quy chế quản lý lưu vực sông liên tỉnh.
  2. Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Giới học thuật thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Nước, Thủy văn học và Kỹ thuật Môi trường. Đề tài cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng chỉ số WQI theo Quyết định 879/QĐ-TCMT, quy trình lấy mẫu đa tầng bằng thiết bị Van Deers và kỹ thuật phân tích chuỗi dữ liệu không gian GIS.
  3. Ban quản lý các khu công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất: Chủ đầu tư các nhà máy mía đường, tinh bột sắn, xí nghiệp chế biến thủy sản và ban quản lý các KCN Hòa Phú, Trà Đa. Tài liệu giúp nhận diện rõ các thông số ô nhiễm đặc thù (COD, TSS, Coliform) để chủ động nâng cấp công nghệ xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật.
  4. Đơn vị tư vấn kỹ thuật và ban quản lý hồ chứa thủy lợi - thủy điện: Các kỹ sư vận hành hồ Ayun Hạ, Sông Hinh và đơn vị tư vấn môi trường. Cung cấp dữ liệu thủy văn dòng chảy kiệt và biến động bùn cát để tối ưu hóa quy trình điều tiết nước, cân bằng giữa mục tiêu phát điện, tưới tiêu và duy trì dòng chảy môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số WQI phản ánh chất lượng nước sông Ba trong nghiên cứu như thế nào? Chỉ số chất lượng nước WQI được tính toán tích hợp từ 10 thông số lý hóa và vi sinh theo thang đo chuẩn 0 - 100. Kết quả tính toán cho thấy chất lượng nước phân hóa rõ rệt: thượng nguồn đạt mức 76 - 90 (màu Xanh lá cây - dùng cho sinh hoạt có xử lý), nhưng khi qua các khu đô thị và chế biến công nghiệp tại An Khê và Tuy Hòa trong mùa khô, WQI giảm xuống mức 51 - 75 (màu Vàng - chỉ dùng tưới tiêu) và cục bộ giảm xuống mức 26 - 50 (màu Da cam).

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm hữu cơ tại lưu vực sông Ba là gì? Ô nhiễm hữu cơ (thể hiện qua nồng độ BOD5 và COD vượt chuẩn từ 1,3 đến 2,5 lần) chủ yếu bắt nguồn từ nước thải chưa qua xử lý đạt chuẩn của 4 nhà máy đường quy mô lớn (tổng công suất trên 11.500 tấn mía/ngày), các cơ sở chế biến tinh bột sắn (công suất 12.500 tấn/năm), cùng nguồn nước thải sinh hoạt đô thị từ hơn 262.000 dân thành phố Tuy Hòa xả trực tiếp ra dòng chính.

Phương pháp lấy mẫu nước trong luận văn được thực hiện theo tiêu chuẩn nào? Mẫu nước được thu thập trực tiếp tại 10 vị trí trọng điểm trải dài 374 km dòng sông bằng thiết bị Van Deers chuyên dụng. Tại mỗi điểm đo, mẫu được lấy tại 3 vị trí ngang sông (bờ trái, giữa dòng, bờ phải) và đa tầng độ sâu, tuân thủ đúng Tiêu chuẩn Phương pháp chuẩn kiểm tra nước và nước thải của Hoa Kỳ (Standard Methods, 1995) và quy chuẩn của Bộ Tài nguyên và Môi trường để đảm bảo độ tin cậy khoa học.

Các hồ chứa thủy điện tác động như thế nào đến môi trường nước sông Ba vào mùa kiệt? Hệ thống hồ chứa lớn như Ayun Hạ (3.700 ha) và Sông Hinh (4.100 ha) tích trữ nước phục vụ tưới tiêu và phát điện vào mùa khô (thời kỳ dòng chảy tự nhiên chỉ chiếm 25% - 35% cả năm). Hoạt động này làm suy giảm lưu lượng dòng chảy hạ du đập, giảm đáng kể khả năng tự làm sạch và pha loãng chất thải, khiến nồng độ ô nhiễm hữu cơ và độ đục gia tăng tại các đoạn sông cạn.

Giải pháp nào được đánh giá là cấp bách nhất để bảo vệ môi trường nước sông Ba? Giải pháp cấp bách hàng đầu là bắt buộc 100% các nhà máy chế biến nông sản và cụm công nghiệp hoàn thiện trạm xử lý nước thải đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT, đồng thời lắp đặt 4 trạm quan trắc tự động 24/7 tại An Khê, Ayun Pa, Củng Sơn, Tuy Hòa và ban hành quy chế xả dòng chảy môi trường tối thiểu 15 - 25 m³/s từ các hồ chứa liên tỉnh.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước mặt trên toàn bộ 13.900 km² diện tích lưu vực sông Ba thông qua mạng lưới 10 điểm quan trắc đại diện với 22 chỉ tiêu phân tích lý hóa, vi sinh chuyên sâu.
  • Xác định nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ (BOD5, COD) và vi sinh (Coliform) tại các vùng công nghiệp An Khê và hạ lưu Tuy Hòa vượt giới hạn QCVN 08:2008/BTNMT từ 1,3 đến 2,5 lần, phân hóa mạnh mẽ giữa mùa lũ và mùa kiệt (với dòng chảy mùa kiệt chỉ chiếm 25% - 35% cả năm).
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng bằng việc chuẩn hóa phương pháp tính toán chỉ số WQI theo Quyết định 879/QĐ-TCMT kết hợp công nghệ GIS, tạo dựng bộ cơ sở dữ liệu số hóa phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên nước liên tỉnh.
  • Đề xuất lộ trình 5 nhóm giải pháp công trình và phi công trình cụ thể cho giai đoạn 2012 - 2020, trọng tâm là kiểm soát nguồn thải mía đường, xây dựng trạm xử lý nước thải đô thị, lắp đặt 4 trạm quan trắc tự động và nâng độ che phủ rừng lên trên 55%.
  • Kêu góp các cơ quan quản lý, doanh nghiệp sản xuất và viện nghiên cứu tăng cường liên kết, triển khai ngay các cơ chế điều tiết liên hồ chứa nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên nước sông Ba theo định hướng phát triển bền vững.