Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu Vấn đề quản lí tổng hợp tài nguyên và môi trường theo LVS hiện nay đang được quan tâm rất nhiều cả trên thế giới và Việt Nam. Tại Hội nghị Quốc tế về nước và môi trường (Dublin, 1992) vấn đề quản lí tổng hợp tài nguyên nước và môi trường là vấn đề trọng tâm được thảo luận. Trong chương trình hành động 21 (Agenda 21) đã giành quan tâm đặc biệt đến quản lí tổng hợp tài nguyên nước và môi trường nước LVS như ở Australia, Hoa kì, Đức, Đan Mạch, Pháp, Nhật.Ở các nước phát triển, chính phủ và các cơ quan, đặc biệt là cơ quan kiểm soát ô nhiễm và cơ quan quản lí nước, NN và lâm nghiệp đã coi LVS như những đơn vị tự nhiên của việc quản lí đất và nước.
Việc đánh giá, dự báo và kiểm soát chất lượng môi trường theo LVS đã trở thành qui trình, qui phạm trong quản lí LVS bao gồm: các biện pháp giảm thiểu chất thải bằng việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch và kiểm toán chất thải, thu gom tái sử dụng các chất thải, xử lí một phần và toàn bộ các chất thải, nước thải trước khi đổ vào sông, quy hoạch khai thác hợp lí nguồn nước phục vụ phát triển KT – XH của LVS, quan trắc lượng và chất lượng môi trường, cảnh báo sự khuếch tán chất độc hại trong sông và dự báo sinh thái – chất lượng trên toàn LVS. Ở Việt Nam, vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và quản lí LVS cũng được quan tâm từ vài chục năm trở lại đây. Việc hình thành các tổ chức lưu vực được coi như là phương tiện hữu hiệu để quy hoạch trị thủy dòng sông, bảo vệ môi trường và phát triển KT – XH. Trong những năm qua có nhiều chương trình, đề tài, đề án của Nhà nước đã được triển khai: 1.
Đề án cấp nhà nước: “Xây dựng đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Hương” thuộc chương trình Nhiệm vụ quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường.TSKH Nguyễn Văn Cư, Viện Địa lý (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chủ trì. Đề án đã tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá các tác nhân gây ô nhiễm môi trường LVS; theo dõi diễn biến và dự báo CLN của LVS từ đó xây dựng đề án tổng thể bảo vệ môi trường LVS Hương. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bài báo “Đánh giá chất lượng nước sông Bồ ở tỉnh Thừa Thiên Huế dựa vào chỉ số chất lượng nước (WQI)”, 2010, Tạp chí khoa học Huế do Nguyễn Văn Hợp, Phạm Nguyễn Anh Thi, Thủy Châu Tờ - Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, Nguyễn Minh Cường – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng WQI theo mô hình gốc của Bhargava để đánh giá CLN cho LVS Bồ. Bài báo: “Xây dựng chỉ số chất lượng để đánh giá và quản lí chất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai ” (2010) TS. Tôn Thất Lãng, Trường Cao đẳng Tài nguyên Môi trường. Tác giả đã sử dụng phương pháp Delphi để xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng môi trường nước sông Đồng Nai 4.
Đề tài: “Điều tra thu thập đánh giá dữ liệu nước mặt tỉnh Phú Yên năm 2010” – do Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Phú Yên chủ trì. Đề tài đã tiến hành điều tra đưa ra những đánh giá về CLN mặt sông Ba ở khu vực hạ lưu địa phận thuộc tỉnh Phú Yên trong hai hăm 2008 – 2009. Dự án: “Đánh giá chất lượng nước và trầm tích đầm phá Tam Giang – Cầu Hai 2006 – 2007” do nhóm Tài nguyên thiên nhiên thuộc dự án “Quản lí tổng hợp các hoạt động ở cùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế” do Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) tài trợ. Dự án tiến hành làm các công việc bao gồm: điều tra môi trường nhằm thu được bức tranh tổng quát về CLN và trầm tích; xây dựng mô hình thủy sinh và thiết lập một số công cụ mới hữu dụng cho hoạt động quan trắc trong tương lai, như các chỉ thị về tình trạng phú dưỡng và hệ sinh thái nói chung; và xây dựng cơ sở dữ liệu tổng hợp (dựa vào số liệu thu được kết hợp với các dữ liệu quá khứ) liên quan đến hệ sinh thái vùng đầm phá.
“Báo cáo hiện trạng môi trường nước 3 lưu vực sông: Cầu, Nhuệ - Đáy, Hệ thống sông Đồng Nai” - Báo cáo môi trường Quốc gia 2006 do Bộ tài nguyên môi trường thực hiện. Báo cáo đã đưa ra hiện trạng, nguyên nhân, dự báo ô nhiễm ba lưu vực sông lớn nhất Việt Nam. Từ đó đánh giá thiệt hại do ô nhiễm môi trường nước của 3 lưu vực và đưa ra những biện pháp quản lí, các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường lưu vực. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên lưu vực sông Ba có các công trình nghiên cứu sau: 7.30/06-10: “Nghiên cứu xây dựng công nghệ điều hành hệ thống liên hồ chứa đảm bảo ngăn lũ, chậm lũ, an toàn vận hành hồ chứa và sử dụng hợp lí tài nguyên nước về mùa kiệt lưu vực sông Ba” (2010) Do PGS.
Nguyễn Hữu Khải chủ nhiệm. Đề tài đã góp phần thu thập và xử lý một nguồn số liệu phong phú về địa hình, khí tượng thủy văn, hồ chứa, KT - XH trên LVS Ba làm đầu vào cho bài toán vận hành liên hồ; áp dụng nhiều công cụ thống kê và mô hình toán hiện đại để xác lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa; sử dụng mô hình HEC-RESSIM để phân tích và đưa ra các quy tắc xả lũ bảo đảm an toàn hồ chứa, cắt lũ hợp lý để giảm lũ cho hạ lưu, làm cơ sở cho quy trình vận hành liên hồ chứa mùa lũ… 8. Đề tài: “Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn” (2005) do PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư, Viện Địa lý (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chủ trì. Từ việc xác định các nguyên nhân chính và dự báo khả năng suy thoái tài nguyên và môi trường, đề tài đã xây dựng giải pháp tổng thể quản lý tổng hợp nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cho hai lưu vực sông.
Các nhà khoa học cũng đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên môi trường kinh tế - xã hội của LVS Ba và sông Côn, nhằm giúp cho các nhà khoa học và quản lý tài nguyên môi trường nắm bắt thông tin nhanh chóng và đồng bộ trên toàn lưu vực, làm cơ sở cho công tác quản lý và quy hoạch phát triển KT - XH bền vững. Đề tài độc lập cấp nhà nước: “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các giải pháp phòng tránh, hạn chế hậu quả lũ lụt đối với lưu vực sông Ba”(2003) do PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư, Viện Địa lý (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chủ trì. Đề tài tập trung nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến lũ lụt LVS Ba, sau đó tiến hành phân tích đánh giá xác định nguyên nhân gây lũ lụt và đưa ra các giải pháp phòng tránh và hạn chế hậu quả của lũ lụt. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Dự án “Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Ba”, 2002, do Viện Quy hoạch Thủy lợi, Bộ NN&PTNT chủ trì. Dự án này đã tiến hành đánh giá điều kiện tự nhiên, KT - XH. Từ đó dự báo nhu cầu dùng nước của các ngành dùng nước, tính toán cân bằng nước. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp thủy điện nhỏ miền núi, vùng sâu, vùng xa; đề xuất các giải pháp cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái.
Hiện tại đang có một dự án triển khai nghiên cứu đối với lưu vực sông Ba: “Điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Vu Gia – Thu Bồn” dự án thực hiện từ năm 2010 – 2012 do TS. Nguyễn Thị Thảo Hương, Viện Địa lí (Viện Khoa học công nghệ Việt Nam chủ trì). Như vậy ta có thể thấy đã có rất nhiều các đề tài, dự án đã đề cập đến nhiều vấn đề môi trường của LVS. Song các đề tài, dự án đó mới chỉ đề cập đến vấn đề môi trường ở mức độ tổng thể, chưa có đề tài nào đề cập vấn đề môi trường nước cụ thể, số liệu điều tra khảo sát chất lượng môi trường nước trên LVS Ba còn rất rời rạc, không liên tục và thiếu đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách về chất lượng môi trường nước hiện nay.
Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần đưa ra một cái nhìn tổng quan và chung nhất về chất lượng môi trường nước trên LVS Ba. Các khái niệm về ô nhiễm môi trường nước 1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường nước. Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho hoạt động sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiều hóa chất lạ vượt qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật. Hiến chương Châu Âu về nước, định nghĩa về ô nhiễm nước: “Là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, đối với hoạt động vật nuôi và các loài hoang dại”.[11] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nguồn gốc ô nhiễm nước. Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo. Nguồn gốc tự nhiên của ô nhiễm nước là do mưa, tuyết tan, gió, bão lụt. Các tác nhân trên đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại, kể cả xác chết của chúng.
Nguồn gốc nhân tạo là sự thải chất độc hại như các chất thải sinh hoạt, CN, NN, giao thông vào môi trường nước. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng nước Để đánh giá CLN cũng như mức độ gây ô nhiễm nước, có thể dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản và quy định giới hạn của từng chỉ tiêu đó theo Luật môi trường của một quốc gia hoặc tiêu chuẩn Quốc tế qui định cho từng loại nước sử dụng cho các mục đích khác nhau.