Chương 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm bệnh viện Bệnh viện là nơi cung cấp các dịch vụ y tế nhằm đảm bảo chức năng bảo vệ, chăm sóc và tăng cường sức khỏe nhân dân. Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe người bệnh [14], Bệnh viện là một cơ sở y tế trong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị cơ sở hạ tầng để phục vụ bệnh nhân. Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và một tổ chức động: - Một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.
- Một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc. Một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong [14], 1. Khái niệm về công nghệ thông tin, công nghệ thông tin trong y tế 1.
Khái niệm về công nghệ thông tin Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để thu thập, truyền, xử lý, chuyển đổi, lưu trữ và bảo vệ thông tin. Hay nói một cách khác, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết của Chính phủ 49/CP ngày 04/08/1993 như sau: CNTT là tập họp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội [5], 5 1. Công nghệ thông tin y tế Công nghệ thông tin y tế (CNTTYT) là việc áp dụng quá trình xử lý thông tin liên quan tới phần mềm máy tính và các phần mềm để giải quyết việc lưu trữ, khôi phục, chia sẻ và sử dụng các thông tin y tế, các dữ liệu và kiến cho việc giao tiếp và quyết định lựa chọn. CNTTYT được áp dụng vào tất cả các lĩnh vực bao gồm chăm sóc lâm sàng, điều dưỡng, nha khoa, dược, sức khỏe cộng đồng và các nghiên cứu khác về y tế [19].
CNTTYT bao gồm tập hợp các công nghệ về trao đổi và quản lý các thông tin sức khỏe được sử dụng bởi các khách hàng, nhà cung cấp, người trả chi phí, bảo hiểm y tế và tất cả những đối tượng quan tâm tới sức khỏe và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà cụ thể là lưu trữ và xử lí số liệu của bệnh nhân. Công nghệ này bao gồm sự sắp xếp có thứ tự khác nhau một cách có hệ thống, được liên kết với nhau, làm cho các bác sỹ liên hệ với nhau dễ dàng ví dụ như lưu trữ số liệu bằng máy vi tính, thông báo kết quả ở các labo, cho phép các nhà lâm sàng chia sẻ các thông tin về bệnh nhân không giới hạn về các bệnh viện về biên giới địa lý (thường được gọi là kết nối và các hệ thống có thể trao đổi với nhau) [19] [20]. CNTT y tế đã phát triển theo các chức năng: nâng cao kiến thức chuyên môn như sử dụng thông tin từ các website y học, forum, sách điện tử, video, bài giảng từ xa. giúp cập nhật kiến thức và san bằng khoảng cách kiến thức giữa các vùng địa lý.
Nhân viên y tế dù ở vùng sâu vùng xa cũng dễ dàng tiếp cận kiến thức, kỹ thuật y tế mới nhất thông qua hệ thống internet. Bác sĩ tại các nước đang phát triển cũng có thể dễ dàng tiếp cận, cập nhật các kiến thức mới nhất của các nước tiên tiến; Tự động hóa các phương tiện chẩn đoán và điểu trị: Máy móc xét nghiệm ngày nay hoàn toàn tự động hóa, tiết giảm thao tác, nâng cao độ chính xác xét nghiệm. Các máy móc chẩn đoán hình ảnh đã ứng dụng các kỹ thuật dựng hình để bộc lộ hình ảnh bệnh lý 3 chiều, phục vụ chấn đoán và điều trị ngoại khoa. Kỹ thuật nội soi giúp can thiệp điều trị một cách hiệu quả và tiết giảm chi phí.; Ho trợ đắc lực trong thực hành y khoa: CNTT mang lại nhiều lợi ích trong thực hành y khoa, đã được chứng minh trong thực tế như giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa, giúp bác sĩ quyết định lâm sàng nhanh chóng và chính xác, hồ trợ y tế từ xa (telemedicine), lưu 6 trữ và phân tích số liệu cho nghiên cứu khoa học.; Tăng cường chức năng quản lý bệnh viện: Toàn bộ thông tin bệnh viện được sắp xếp, tổ chức một cách khoa học, làm cơ sở cho công tác quản lý bệnh viện một cách hiệu quả [20].
Tại đất nước khai sinh ra ngành CNTT như nước Mỹ, năm 2002 tổng thống Mỹ G. Bush đã xác định đến năm 2014 toàn dân Mỹ có được cấp mã số sức khỏe, nối mạng bệnh viện toàn quốc. Năm 2008 tổng thống Obama ngay những ngày đầu nhậm chức đã kêu gọi ứng dụng CNTT trong cải cách y tế [31]. Các nước tiên tiến như Anh, úc, Canada là những nước đặc biệt chú trọng đầu tư chi phí vào CNTT y tế vì thấy được tầm quan trọng của sức khỏe nhân dân đồng thời tiết kiệm được nhiều chi phí so với không ứng dụng CNTT.
New Zealand được xem là nước có ứng dụng CNTT trong y tế tốt nhất hiện nay. Các nước trên thế giới đã lên kế hoạch xây dựng chương trình quốc gia về CNTT y tế để thích nghi với thời đại mới. Tại khu vực Châu Á các nước tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore. cũng đã ứng dụng tốt CNTT trong quản lý bệnh viện.
Hiện nay thế giới đã tiến đến ứng dụng “y tế di động” (Mobile-Health), ứng dụng các phương tiện điện thoại di động, máy tính bảng để theo dõi và can thiệp vẩn đề sức khỏe bệnh nhân từ xa [22]. Còn tại Việt Nam: theo sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng, các bệnh viện Việt Nam đã dần dần được trang bị nhiều thiết bị y tể hiện đại như máy xét nghiệm tự động, máy siêu âm 3D (3 Dimensions), 4D (4 Dimensions), X quang kỹ thuật sổ, máy chụp cắt lớp. cộng hưởng từ, PET-CT. giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị.
Thiết bị y tế hiện đại đã giúp khám và điều trị hiệu quả các bệnh khó. Nhờ các thiết bị này, y tế Việt Nam đã bắt kịp trình độ y tế trong khu vực. Các bác sĩ Việt Nam ngày nay đã hầu hết đã biết sử dụng máy tính, thích nghi được với CNTT, sử dụng internet để tự nâng cao kiến thức chuyên môn và ứng dụng trong khám chữa bệnh. Nhìn chung, ứng dụng CNTT trong y tế đã thu được một số kết quả đáng kể.
Mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức nhưng nhu cầu ứng dụng CNTT trong các họat động quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ của Ngành là thực sự lớn. Với nhu cầu cao như thế, động lực bên trong để thúc đẩy CNTT là rất lớn. Bên cạnh đó, nhu cầu 7 cúa người dân, các tổ chức xã hội đối với các dịch vụ công của ngành y tế đang là một áp lực lớn buộc ngành y tế phải ứng dụng CNTT mới có thể đảm bảo cung cấp thông tin đến người dân trong việc khám chữa bệnh tại các bệnh viện, khám chữa bệnh bàng BHYT, cung cấp các dịch vụ đăng ký hành nghề và kinh doanh thuốc, trang thiết bị y tể, an toàn vệ sinh thực phẩm.đây là nhiệm vụ đặt ra khá cấp bách cho CNTT y tế và cũng là động lực giúp cho CNTT trong y tế ngày một phát triển hơn. Văn bản, chính sách về công nghệ thông tin trong Y tế Để định hướng và thúc đẩy việc áp dụng CNTT vào lĩnh vực quản lí nói chung và quản lý thông tin trong y tế nói riêng, Quốc hội, Chính phủ và đặc biệt là Bộ Y tế đã ban hành một số văn bản, quy định hướng dẫn về việc sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý như sau: - Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2006.
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về “Ớhg dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước". - Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BTC-BTTTT ngày 26/5/2008 của Bộ Tài chính và Bộ Thông tin và Truyền thông về “Hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phỉ chi ứng dụng CNTT trong hoạt động cùa cơ quan nhà nước". - Quyết định số 2824/2004/QĐ-BYT ngày 19/8/2004 của Bộ Y tể về “Ban hành phần mềm ứng dụng tin học trong quản lý báo cáo thong kê bệnh viện và hồ sơ bệnh án (Medisoft 2003) ”. - Quyết định số 5573/QĐ-BYT ngày 29/12/2006 của Bộ Y tế về “Ban hành tiêu chí phần mềm và nội dung một so phân hệ phan mềm tin học quản lý bệnh viện - Quyết định số 5574/QĐ-BYT ngày 29/12/2006 của Bộ Y tế về “Hướng dẫn xây dựng dự án ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện ”.
- Chỉ thị số 02/CT-BYT ngày 25 tháng 2 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về “Đấy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ngành y tế" 8 - Quyết định 1191/QĐ-BYT ngày 14/04/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về “P/ỉé duyệt Đề án kiện toàn hệ thống to chức công nghệ thông tin trong các đơn vị sự nghiệp Y tế giai đoạn 2010-1015 1. ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện 1. Trên thế giới Cùng với sự phát triển tin học ở mọi lĩnh vực, các nước phát triển đã đưa tin học hoá vào lĩnh vực bệnh viện [26], Tại Mỹ tin học hoá trong bệnh viện được gắn liền với phát triển CNTT trong ngành y tế. Bước đầu chỉ là ứng dụng trong lĩnh vực lâm sàng, dần dần hướng tới việc ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của bệnh viện trong đó có quản lý.
Năm 2001, Viện Y học đã kêu gọi việc sử dụng hệ thống kê đơn điện tử trong tất cả các cơ sở y tế vào năm 2010 và thúc giục các bệnh viện ở Mỹ thực hiện hệ thống “ra chỉ định của các bác sỹ lâm sàng trên máy tính (CPOE)”.