Khóa luận Ngô Thị Thu Hương: Tuân thủ thuốc đái tháo đường típ 2 tại BV 108

Nghiên cứu đánh giá thực trạng kiên trì và tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện 108 và các yếu tố ảnh hưởng.

Chuyên ngành

Dược Sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2025

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về tuân thủ thuốc đái tháo đường típ 2

Tuân thủ sử dụng thuốc là quá trình bệnh nhân đái tháo đường típ 2 thực hiện theo đúng hướng dẫn của cán bộ y tế về liều lượng, thời gian và cách sử dụng thuốc điều trị. Tại Bệnh viện 108, việc đánh giá tuân thủ thuốc đái tháo đường típ 2 là một công tác quan trọng trong quản lý chất lượng điều trị. Sự kiên trì trong sử dụng thuốc giúp kiểm soát mức đường huyết hiệu quả, giảm biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 còn thấp, ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuốc giúp các nhân viên y tế có những can thiệp kịp thời, nâng cao hiệu quả điều trị bệnh tại BV 108.

1.1. Định nghĩa tuân thủ sử dụng thuốc

Tuân thủ thuốc là mức độ mà bệnh nhân thực hiện theo đúng các hướng dẫn về sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường từ nhân viên y tế. Đây là yếu tố then chốt quyết định thành công của phương pháp điều trị đái tháo đường típ 2 tại các cơ sở y tế như Bệnh viện 108. Tuân thủ bao gồm các khía cạnh: tuân thủ về liều lượng, tuân thủ về thời gian uống, tuân thủ về số lần sử dụng và tuân thủ về thời gian điều trị liên tục.

1.2. Tầm quan trọng của tuân thủ thuốc trong điều trị

Tuân thủ sử dụng thuốc đái tháo đường típ 2 là nền tảng của việc kiểm soát bệnh hiệu quả. Bệnh nhân tuân thủ tốt sẽ đạt được mục tiêu kiểm soát mức đường huyết, giảm nguy cơ biến chứng mạn tính như suy thận, rối loạn thị lực, bệnh tim. Tại BV 108, việc đánh giá và cải thiện tuân thủ thuốc giúp tối ưu hóa kết quả điều trị và giảm gánh nặng bệnh tật cho xã hội.

II. Thực trạng tuân thủ thuốc tại Bệnh viện 108

Nghiên cứu đánh giá tuân thủ thuốc đái tháo đường típ 2 tại BV 108 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ tốt còn ở mức trung bình. Nhiều bệnh nhân gặp khó khăn trong việc duy trì thói quen uống thuốc đều đặn do các nguyên nhân khác nhau. Sự kiên trì của bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tình trạng kinh tế, hiểu biết về bệnh, số lượng thuốc phải sử dụng và các tác dụng phụ. Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, việc áp dụng các phương pháp đánh giá tuân thủ hiện đại giúp nhân viên y tế phát hiện sớm các bệnh nhân không tuân thủ và có kế hoạch can thiệp thích hợp.

2.1. Các phương pháp đánh giá tuân thủ thuốc

Có nhiều phương pháp đánh giá tuân thủ thuốc được sử dụng tại BV 108: phương pháp hỏi trực tiếp, đếm viên thuốc còn lại, kiểm tra cơ sở dữ liệu tái cấp phát thuốc. Phương pháp dựa trên cơ sở dữ liệu là hiện đại nhất, cho phép phát hiện chính xác tỷ lệ tuân thủ của từng bệnh nhân đái tháo đường típ 2 qua lịch sử cấp phát thuốc.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ

Tuân thủ thuốc của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 bị ảnh hưởng bởi: tuổi, giới tính, mức độ hiểu biết về bệnh, tình trạng kinh tế, số loại thuốc phải sử dụng, tác dụng phụ, khoảng cách đến bệnh viện. Nghiên cứu tại BV 108 chỉ ra rằng bệnh nhân trẻ tuổi và có thu nhập tốt hơn có xu hướng tuân thủ tốt hơn.

III. Kết quả đánh giá tuân thủ thuốc tại BV 108

Kết quả đánh giá tuân thủ thuốc đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện 108 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ tốt (uống thuốc đủ ≥80% ngày điều trị) chiếm khoảng 60-65% trường hợp. Nhóm bệnh nhân không tuân thủ (uống thuốc <80% ngày) gặp gặp phải các vấn đề như quên uống thuốc, thay đổi liều lượng tùy ý, dừng uống thuốc khi cảm thấy khỏe. Sự kiên trì trong sử dụng thuốc đái tháo đường là thách thức lớn, đặc biệt ở giai đoạn sau 6 tháng điều trị. Các kết quả này nhấn mạnh nhu cầu cần thiết phải có các chương trình can thiệp cải thiện tuân thủ hiệu quả tại BV 108.

3.1. Tỷ lệ tuân thủ và kiên trì điều trị

Tỷ lệ tuân thủ thuốcBV 108 thay đổi theo giai đoạn điều trị. Những tháng đầu, bệnh nhân có tuân thủ tốt hơn (70-80%), nhưng sau 6-12 tháng, tỷ lệ giảm xuống 50-60%. Sự kiên trì lâu dài đòi hỏi sự cam kết từ bệnh nhân và hỗ trợ từ đội ngũ y tế.

3.2. Phân tích nhóm tuân thủ và không tuân thủ

Phân tích so sánh giữa nhóm bệnh nhân tuân thủ và nhóm không tuân thủ thuốc tại BV 108 cho thấy: nhóm tuân thủ có mục tiêu điều trị rõ ràng, hiểu biết tốt về bệnh đái tháo đường, có sự hỗ trợ gia đình. Nhóm không tuân thủ thường có thu nhập thấp, sống xa bệnh viện, không hiểu rõ tác hại của bệnh.

IV. Đề xuất cải thiện tuân thủ thuốc tại BV 108

Để nâng cao tuân thủ thuốc đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện 108, cần thực hiện các biện pháp toàn diện. Thứ nhất, cần tăng cường giáo dục bệnh nhân về tác hại của bệnh và lợi ích của sử dụng thuốc đều đặn. Thứ hai, đơn giản hóa phương pháp sử dụng thuốc bằng cách giảm số lần uống thuốc mỗi ngày, sử dụng các đơn vị phối hợp thuốc. Thứ ba, thiết lập hệ thống nhắc nhở tự động cho bệnh nhân qua điện thoại hoặc ứng dụng di động. Thứ tư, cần theo dõi định kỳ tuân thủ thuốc dựa trên cơ sở dữ liệu để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

4.1. Các chiến lược giáo dục bệnh nhân

Chiến lược giáo dục về đái tháo đường típ 2 cần tập trung vào: cung cấp thông tin chính xác, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, phát triển các tài liệu hướng dẫn, tổ chức lớp học cho bệnh nhân. Tại BV 108, nên tổ chức định kỳ các buổi tư vấn về tuân thủ thuốc để giúp bệnh nhân hiểu rõ vai trò của điều trị liên tục.

4.2. Vai trò của nhân viên y tế và gia đình

Nhân viên y tế tại BV 108 cần được đào tạo kỹ năng tư vấn tuân thủ thuốc, kiến thức về đái tháo đường. Gia đình bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong sự kiên trì điều trị, cần được tham gia vào quá trình đánh giá và hỗ trợ tuân thủ thuốc của bệnh nhân.

28/12/2025
Ngô thị thu hương đánh giá sự kiên trì và tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện trung ương quân đội 108 khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) đang nổi lên như một đại dịch toàn cầu với tốc độ gia tăng đáng báo động. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chỉ ra sự gia tăng gấp bốn lần số lượng người trưởng thành mắc ĐTĐ trên toàn thế giới kể từ năm 1990, vượt quá con số 800 triệu vào năm 2024 [1]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF) ước tính có khoảng 589 triệu người trưởng thành (20-79 tuổi) mắc ĐTĐ, tương đương cứ 9 người trưởng thành thì có 1 người mắc ĐTĐ vào năm 2024. IDF dự báo sẽ có 853 triệu người mắc ĐTĐ vào năm 2050.

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ gia tăng tỷ lệ người mắc ĐTĐ nhanh nhất trên thế giới, với khoảng 7 triệu người được thống kê vào năm 2023. Bệnh ĐTĐ tạo ra gánh nặng kinh tế lớn cho xã hội, gia đình và bản thân người bệnh Việt Nam. Chi phí điều trị hàng năm cho ĐTĐ típ 2 ước tính chiếm khoảng 7-11% GDP bình quân đầu người tại Việt Nam [2]. Do đó, việc kiểm soát đường huyết hiệu quả, thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập luyện khoa học và sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, đóng vai trò then chốt trong điều trị người bệnh ĐTĐ nói chung và ĐTĐ típ 2 nói riêng.

Việc duy trì đường huyết ổn định và đạt mục tiêu điều trị trong dài hạn ở người bệnh ĐTĐ típ 2 sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ phát triển các biến chứng, hạn chế số lần nhập viện và nguy cơ tử vong. Để đạt được điều này, sự tuân thủ sử dụng thuốc và kiên trì tuân thủ điều trị là một yếu tố không thể thiếu. Theo hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế, khuyến cáo bắt đầu điều trị cho người bệnh ĐTĐ típ 2 là bằng các thuốc đường uống. Trong đó, metformin (biguanide) là thuốc điều trị đầu tay.

Điều trị phối hợp các thuốc điều trị ĐTĐ đường uống được khuyến nghị nếu điều trị đơn liều không hiệu quả. Nếu các thuốc điều trị ĐTĐ đường uống không hiệu quả thì liệu pháp điều trị phối hợp hoặc thay thế bằng insulin mới được lựa [3]. Do đó, việc tuân thủ điều trị ngay từ đầu tức tuân thủ ở nhóm người bệnh sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ đường uống là rất quan trọng và được quan tâm. Việt Nam đặt mục tiêu 100,0% bệnh viện phải triển khai bệnh án điện tử trước tháng 10/2025 [4].

Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý khám chữa bệnh đồng thời tạo ra cơ hội lớn trong nghiên cứu từ việc khai thác cơ sở dữ liệu điện tử. Xu hướng nghiên cứu về tuân thủ sử dụng thuốc và kiên trì điều trị từ cơ sở dữ liệu điện tử đã được thực hiện từ lâu trên thế giới. Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới công bố về đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc và sự kiên trì từ cơ sở dữ liệu điện tử [5-7]. Tuy nhiên, tại Việt Nam đây vẫn là một lĩnh vực mới, cần được khai thác.

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (TWQĐ 108) là bệnh viện tuyến cuối của quân đội, bệnh viện hạng đặc biệt của quốc gia, đa khoa. Số lượng người bệnh mắc ĐTĐ típ 2 đang điều trị tại viện lớn và có xu hướng gia tăng. Số lượng người bệnh mắc ĐTĐ điều trị tại bệnh viện năm 2022 là khoảng 4200 người bệnh đã tăng lên hơn 5000 người 1 bệnh năm 2024. Trong đó, phần lớn người bệnh chỉ sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ đường uống (chiếm hơn 60% số người bệnh mắc ĐTĐ típ 2).

Do đó, việc quản lý điều trị đặc biệt là vấn đề tuân thủ sử dụng thuốc và kiên trì tuân thủ điều trị của người bệnh sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ đường uống là vấn đề rất được quan tâm. Việc đánh giá vấn đề tuân thủ sử dụng thuốc và kiên trì của người bệnh ĐTĐ típ 2 sẽ giúp đề xuất ra các giải pháp phù hợp giúp nâng cao hoạt động quản lý điều trị bệnh. Theo hiểu biết của chúng tôi, tại bệnh viện TWQĐ 108 cũng đã có một số nghiên cứu về tuân thủ sử dụng thuốc trên người bệnh ĐTĐ típ 2 [8], [9]. Tuy nhiên, nghiên cứu trước đó đều đánh giá tuân thủ chủ yếu bằng bộ câu hỏi còn chưa có nghiên cứu nào đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc ở người bệnh ĐTĐ típ 2 dựa trên dữ liệu trích xuất từ phần mềm.

Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá sự kiên trì và tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc thông qua cơ sở dữ liệu của người bệnh đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong giai đoạn từ 2022 đến 2024 2. Đánh giá sự kiên trì của người bệnh đái tháo đường típ 2 thông qua cơ sở dữ liệu tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong giai đoạn từ 2022 đến 2024 Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cung cấp thực trạng về sự kiên trì và tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh tại bệnh viện và xác định được một số yếu tố giúp dự báo khả năng người bệnh kiên trì và tuân thủ sử dụng thuốc từ đó có thể đề xuất giải pháp phù hợp nhằm quản lý tốt hơn người bệnh ĐTĐ típ 2. Bệnh đái tháo đường 1.

Khái niệm bệnh đái tháo đường Theo Bộ Y tế: “Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh” [3]. Còn theo hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) thì “ Đái tháo đường là một nhóm bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết trong việc bài tiết insulin, hoạt động insulin kém hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường dẫn đến sự hủy hoại, rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt nhất là mắt, thận, tim, thần kinh và mạch máu.

Như vậy, bệnh ĐTĐ là một bệnh mãn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc cơ thể không thể sử dụng hiệu quả insulin được sản xuất. Đái tháo đường típ 2 Đái tháo đường được thành ĐTĐ típ 1, ĐTĐ típ 2, ĐTĐ thai kỳ và ĐTĐ do nguyên nhân khác. Trong đó, ĐTĐ típ 2 chiếm nhiều nhất, chiếm 90-95% các trường hợp mắc ĐTĐ [3]. Đái tháo đường típ 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin.

Thể bệnh này bao gồm những người thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin. Người bệnh không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số người bệnh có béo phì hoặc thừa cân và/ hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to. Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào beta sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ típ 2 lâm sàng sẽ xuất hiện.

Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường [3]. Nguy cơ ĐTĐ típ 2 gia tăng với tuổi, béo phì, ít vận động. Bệnh cũng thường xuất hiện ở phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ, những người có tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và ở một số sắc tộc nhạy cảm nhu Mỹ da đen, Mỹ bản địa, người Mỹ gốc latinh, người gốc Nam Á, một số đảo ở vùng Thái Bình Dương [3]. Yếu tố di truyền ảnh hưởng mạnh mẽ trong bệnh ĐTĐ típ 2, tỷ lệ cũng bị ĐTĐ của hai người sinh đôi cùng trứng là 90%, hầu hết người ĐTĐ típ 2 đều có thân nhân bị ĐTĐ.

Có thể bệnh do ảnh hưởng của nhiều gen chi phối. Nếu tìm được một gen cụ thể gây tăng glucose huyết, người bệnh sẽ được xếp vào thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ [3]. Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến gia tăng tỉ lệ ĐTĐ típ 2 liên quan đến béo phì, ăn các loại thực phẩm giàu năng lượng, giàu carbohydrat, ít vận động [3]. Điều trị bệnh đái tháo đường típ 2 1.

Mục tiêu điều trị Mục tiêu điều trị ở người bệnh ĐTĐ có thể khác nhau, cần thiết phải cá thể hóa người bệnh và phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, tuổi, biến chứng của người bệnh, cũng như thời gian mắc bệnh [3]. Mục tiêu điều trị cho người bệnh đái tháo đường típ 2 ở người trưởng thành, không có thai [3] Chỉ số Mục tiêu HbAlc < 7% (53 mmol/mol) Glucose mao mạch 80 – 130 mg/dL (4,4 – 7,2 mmol/L) lúc đói, trước ăn Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau < 180 mg/dL (10,0 mmol/L) ăn 1-2 giờ + Tâm thu < 140 mmHg, Tâm trương < 90mmHg Huyết áp + Nếu đã có biến chứng thận, hoặc có yếu tố nguy cơ tim mạch do xơ vữa cao: < 130/80 mmHg + LDL cholesterol < 100 mg/dL (2,6 mmol/L) nếu chưa có biến chứng tim mạch + LDL cholesterol < 70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có biến chứng tim mạch vỡ xưa hoặc có thể < 50 mg/dL (1,3 Lipid máu mmol/L) nếu có yếu tố nguy cơ xơ vữa cao + Triglycerid <150 mg/dL (1,7 mmol/L) + HDL cholesterol > 40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và > 50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ Mục tiêu điều trị có thể nghiêm ngặt hơn: HbA1c <6,5% (48 mmol/mol) nếu có thể đạt được và không có dấu hiệu đáng kể của hạ đường huyết và những tác dụng có hại của thuốc. Ngược lại, mục tiêu điều trị có thể ít nghiêm ngặt HbA1c < 8% (64 mmol/mol) phù hợp với những người bệnh có tiền sử hạ glucose huyết trầm trọng, lớn tuổi, các biến chứng mạch máu nhỏ hoặc mạch máu lớn có nhiều bệnh lý đi kèm hoặc bệnh ĐTĐ trong thời gian dài và khó đạt mục tiêu điều trị. Để đạt được mục tiêu điều trị, người bệnh ĐTĐ thường sẽ phải sử dụng thuốc.

Các thuốc điều trị ĐTĐ típ 2 Các thuốc điều trị ĐTĐ gồm thuốc đường uống và đường tiêm. Thuốc đường uống gồm biguanide (metformin), sulfonylure, ức chế enzym anpha glucoside, ức chế kênh SGLT2 (sodium glucose contransporter 2), ức chế enzym DPP-4 (dipeptidyl 4 peptidase 4), TZD (thiazolidinedione). Thuốc tiêm gồm insulin, đồng vận thụ thể GLP (glucose like peptide) [3]. Người bệnh ĐTĐ típ 2 được khuyến cáo bắt đầu điều trị bằng các thuốc đường uống.

Trong đó, metformin (biguanide) là thuốc điều trị đầu tay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ