MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đất là một dạng tài nguyên vô cùng quan trọng mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Ðất có hai nghĩa: Đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất nông lâm nghiệp. Ðất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian.
Thành phần cấu tạo chung của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35%. Đất thổ nhưỡng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cung cấp lương thực cho con người và động vật để bảo tồn sự sống. Đất còn cung cấp các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu khác của con người như bông, gỗ xẻ, giấy, dược liệu… Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Như vậy, tài nguyên đất có vai trò vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt lại vừa đáp ứng nhu cầu sản xuất của con người lại có ý nghĩa to lớn trong việc thể hiện lãnh thổ chủ quyền quốc gia [15].
Đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, không thể thay thế và di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý không những có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước mà còn đảm bảo cho mục tiêu chính trị và phát triển xã hội. Ngày nay, khi kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tài nguyên đất nói chung đặc biệt là đất nông nghiệp có nguy cơ bị suy thoái với tốc độ nhanh chóng do hoạt động của con người và của tự nhiện như: Xói mòn, rửa trôi, bạc mầu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu,. nên làm thế nào để việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp đạt hiệu quả luôn được Nhà nước chú trọng và nâng cao, điều này có ý nghĩa quan trọng góp phần vào công cuộc phát triển đất nước, để hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.
Tuy nhiên trong quá trình quản lý và thực thi vấn đề này hiện nay còn gặp nhiều bất cập, nhiều văn bản pháp lý được ban hành còn chồng chéo và 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mâu thuẫn, tình trạng chuyển dịch đất đai ngoài sự kiểm soát của pháp luật vẫn xảy ra do đó việc đưa ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất đối với từng địa phương cụ thể là rất cần thiết. Huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội là huyện nằm ở khu vực địa lý phía Tây của tam giác châu thổ sông Hồng, vừa có sắc thái riêng của vùng đồng bằng bán sơn địa vừa mang sắc thái chung của vùng Đồng bằng sông Hồng. Các điều kiện tự nhiên, khí hậu của vùng rất thích hợp phát triển ngành nông nghiệp. Về điều kiện kinh tế - xã hội có nguồn lao động dồi dào, người dân có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp lâu đời, cơ sở vật chất và kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp ngày càng được chú trọng đầu tư.
Do ngành nông nghiệp của huyện chiếm tỷ trọng tương đối lớn nên cần có những nghiên cứu về tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, để từ đó xây dựng phương hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như quản lý đất đai và bảo vệ môi trường đất nông nghiệp phục vụ phát triển bền vững. Đề tài “Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp” được đặt ra và thực hiện nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước nói chung, huyện Quốc Oai có thêm cơ sở khoa học trong quy hoạch và định hướng sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý, hiệu quả và bền vững hơn. Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học trong việc đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Quốc Oai, làm rõ một số lợi thế và hạn chế, đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn: Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở định hướng có cơ sở khoa học và thực tiễn, góp phần nâng cao thu nhập cho địa phương và người sử dụng đất.
Mục tiêu đề tài - Đánh giá hiện trạng sử dụng và quản lý tài nguyên đất nông nghiệp huyện Quốc Oai; - Đánh giá hiện trạng các chính sách quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp của huyện; - Đề xuất các giải pháp quản lý, khai thác và sử dụng đất hợp lý, hiệu quả góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quốc Oai 1. Điều kiện tự nhiên 1.
Vị trí địa lý Huyện Quốc Oai nằm phía Tây thành phố Hà Nội cách trung tâm thành phố 20km, là vùng bán sơn địa, có tọa độ địa lý từ: 20054’ đến 21004’ vĩ độ bắc và 105030’ đến 105043’ kinh độ đông. Huyện có diện tích vào khoảng 14.790,78 ha, bao gồm thị trấn Quốc Oai và 20 xã. - Phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ và Thạch Thất; - Phía Nam giáp huyện Chương Mỹ; - Phía Đông giáp huyện Hoài Đức; - Phía Tây giáp huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình). Hình 1: Sơ đồ hành chính huyện Quốc Oai Quốc Oai nằm trên hệ thống đường giao thông khá phát triển, tuyến đường Đại lộ Thăng Long, quốc lộ 21A và đường Hồ Chí Minh, kết nối trung tâm Hà Nội với các địa phương khác.
Do vậy, Quốc Oai nằm trên trục không gian và cảnh quan 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có ý nghĩa quan trọng về mặt phân bố dân cư, kinh tế và quốc phòng, tạo động lực để phát triển vùng thủ đô Hà Nội. Địa hình, địa mạo Quốc Oai nằm trên khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi. Nhìn tổng quát, địa hình có xu hướng thấp từ Tây sang Đông và được chia thành 3 vùng địa hình chính: - Tiểu vùng đồi gò: nằm phía Tây của huyện, gồm các xã Đông Xuân, Phú Cát, Phú Mãn, Hòa Thạch và Đông Yên. Đây là vùng bán sơn địa, địa hình trong vùng không đồng đều, gồm những đồi thấp xen kẽ các đồi trũng.
Đất gò đồi có độ cao phổ biến từ 20-25m, cốt đất dưới ruộng từ 7 - 10m. Đất chủ yếu nằm trên sản phẩm phong hóa của đá phiến, phù sa cổ. Tầng đất canh tác mỏng; - Tiểu vùng nội đồng gồm các xã Phượng Cách, Sài Sơn, Thạch Thán, Ngọc Mỹ, Nghĩa Hương, Ngọc Liệp,… có độ cao từ 5-7m, có xu hướng giảm dần độ cao về phía Tây Nam, địa hình bằng phẳng xen các ô trũng; - Tiểu vùng ven sông phân bố tập trung dọc theo ven bờ sông Đáy với chiều dài khoảng 15km gồm các xã Tân Phú, Đại Thành, Tân Hòa, Cộng Hòa, Đồng Quang,… có độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, vùng có địa hình bằng phẳng đất đai màu mỡ. Với các dạng địa hình trên cho phép huyện có thể phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi như cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp với hiệu quả kinh tế cao.
Khí hậu - thời tiết Khí hậu của huyện mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng với 2 mùa rõ rệt là mùa đông khô và lạnh, mùa hè nóng ẩm. Các đặc trưng khí hậu chính như sau: - Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ trung bình năm là 230C - 240C, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 140C (vào tháng 1). Tháng nóng nhất là tháng 6 có nhiệt độ trung bình trên 37,50C. Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 còn mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Số giờ nắng trong năm trung bình là 1600 - 1700 giờ. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lượng mưa và bốc hơi. + Lượng mưa bình quân năm là 1650 - 1800mm. Lượng mưa phân bố trong năm không đều, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm.
Mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 10 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2; + Lượng bốc hơi cả năm chiếm 60% so với lượng mưa trung bình năm. Lượng bốc hơi trong các tháng mưa không cao, do đó mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu nước hơn, tuy nhiên do hệ thống thủy lợi tương đối tốt nên ảnh hưởng không lớn đến cây trồng vụ đông xuân. - Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 83%, độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là tháng 11 và tháng 12, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không nhiều; - Gió: hướng gió chủ yếu vào mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió Đông Nam, thi thoảng xuất hiện gió Tây Nam vào các tháng 6 và tháng 7; - Sương muối hầu như không có, bão và mưa đá rất ít khi xảy ra song một số năm có lốc xoáy cục bộ gây hại đối với cây cối và nhà cửa. Nhìn chung, Quốc Oai có điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc gieo trồng quanh năm, đa dạng hóa nông nghiệp, phát triển các sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao phục vụ nhân dân và cung cấp cho thị trường Hà Nội và các vùng lân cận.
Thuỷ văn Trên địa bàn huyện có 2 con sông chính chảy qua là sông Đáy, sông Tích. Chế độ thủy văn của huyện còn phụ thuộc vào sông Hồng và nhiều ao, hồ khác. Các sông ở Quốc Oai có 2 mùa rõ rệt là mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau. - Sông Đáy là phân lưu chính của sông Hồng, đoạn chảy qua địa phận Quốc Oai dài 15km, sông Đáy hoàn toàn bị chặn, chỉ khi phân lũ mới được mở cửa tiêu nước cho sông Hồng.
Do đó sông bị bồi lấp mạnh, về mùa cạn sông Đáy chỉ còn là một lạch nhỏ.