CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tính bền vững và tính bền vững của các hệ thống Bền vững (sustainability) là khả năng duy trì. Trong sinh thái học, "bền vững" là cách thức mà hệ thống sinh học duy trì được sự đa dạng của giống loài và sinh sôi theo thời gian.
Những vùng đất ẩm ướt hay các khu rừng tươi tốt lâu đời là một điển hình cho hệ thống sinh học bền vững. Tính bền vững: Về khía cạnh con người: “Tính bền vững” là khả năng duy trì ổn định lâu dài trạng thái sức khỏe tốt, tính bền vững chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố về môi trường, kinh tế và xã hội Hình 1. Tính bền vững Về khía cạnh sinh thái: “Tính bền vững” được hiểu là các chiến lược nhằm đảm bảo tính đa dạng và khả năng chống chọi để phát triển liên tục các hệ sinh thái trong việc thực hiện chức năng lâu dài (Assé, Rainer, Tại sao cần bảo tồn để phát triển bền vững). Một số định nghĩa khác: “Tính bền vững” là sự đảm bảo cho các thế hệ tương lai có cơ hội được sử dụng nguồn tài nguyên mà hành tinh chúng ta cung cấp hay tính bền vững là sự phát triển kinh tế và xã hội mà không làm ảnh hưởng đến môi trường với các thuộc tính sau: + Con người và các các cơ thể sống khác hài hòa với các hệ thống trợ giúp tự nhiên như không khí, nước và đất (bao gồm các hệ sinh thái).
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Kế hoạch sử dụng các tài nguyên có thể phục hồi như nước, rừng, đồng cỏ, đất nông nghiệp, ngư trường không làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên và phá hủy các hệ sinh thái. + Kế hoạch sử dụng tài nguyên không thể phục hồi không gây tổn hại cho môi trường toàn cầu, và cung cấp một phần cho tài nguyên không tái tạo cho thế hệ tương lai. Khoa học bền vững: là một lĩnh vực khoa học mới, có tính liên ngành cao, với mục tiêu xây dựng một hệ trí thức khoa học để nhận thức một cách đúng đắn, sâu sắc và toàn diện hơn. Phát triển bền vững: là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng nhu cầu của thế hệ mai sau (UN, 1992).
Tính bền vững của hệ thống: Bản chất là sự nhận diện các rủi ro và tìm ra các giải pháp khả thi nhằm giải quyết các vấn đề đe dọa đến sự phát triển bền vững của các tổ chức, quốc gia và cả thế giới loài người. Tính bền vững của hệ thống Theo PGS. Lưu Đức Hải bền vững: là sự ổn định, lâu dài và phát triển. Đối với một cơ quan quản lý để bền vững phải đảm bảo đủ các yếu tố về quy định pháp luật, cơ chế tổ chức, thực hiện chức trách theo quy định.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tính bền vững của cơ quan quản lý Sự bền vững của tổ chức: là sự phát triển và cân bằng của 4 nhóm yếu tố: khách hàng, các quy trình nội bộ, đào tạo và nhân viên, và tài chính của tổ chức (Pau Niven, 2009). Phát triển bền vững một tổ chức nghĩa là “một nỗ lực để lập kế hoạch, mở rộng tổ chức, quản lý từ cấp cao nhằm mục đích tăng cường hiệu lực và sức mạnh của tổ chức thông qua các công cụ can thiệp có tổ chức vào quá trình hoạt động của tổ chức, sử dụng kiến thức khoa học về hành vi” (Smith, 1998, tr. Theo Warren Bennis, phát triển bền vững một tổ chức là một chiến lược phức tạp nhằm thay đổi quan điểm, niềm tin, giá trị, cấu trúc của tổ chức một cách lâu dài nhằm thích ứng với công nghệ mới, thị trường mới và những thách thức.
Trên các quan điểm trên, TCTCVM được coi như phát triển bền vững nếu duy trì được sự cân bằng giữa an toàn – sinh lời trong thời gian dài; phục vụ lợi ích của khách hàng; và gia tăng lợi ích cho cộng đồng, xã hội, môi trường. Tổng quan về cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tính bền vững của mô hình quản lý 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Việc nghiên cứu tính bền vững của cơ quan quản lý di sản thiên nhiên thế giới 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở Việt Nam nói chung cũng như Ban Quản lý vịnh Hạ Long nói riêng hiện nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu toàn diện. Tuy nhiên, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan về công tác quản lý tại các khu bảo tồn, danh lam thắng cảnh, di sản như: Hoàng Thị Hiền (2017).
“Nghiên cứu, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngồ Luông, tỉnh Hòa Bình”, Luận văn thạc sỹ khoa học bền vững, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Trần Thanh Nam (2017): “Nghiên cứu đánh giá tính bền vững của làng nghề gốm truyền thống Phù Lãng tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Luận văn thạc sỹ khoa học bền vững, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Đề tài này hướng đến đánh giá toàn diện tính bền vững làng nghề gốm truyền thống Phù Lãng trước thách thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đề ra giải pháp nhằm giữ gìn và phát triển bền vững làng nghề, giữ gìn văn hóa thương hiệu gốm Phù lãng truyền thống đủ sức cạnh tranh và phát triển trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống cho người dân làm nghề gốm tại địa phương, góp phần xây dựng Nông thôn mới. Đỗ Xuân Đức (2016): “Nghiên cứu áp dụng đồng quản lý trong sử dụng bền vững tài nguyên nước tại khu vực hồ thủy điện Sơn La”.
Luận văn thạc sỹ khoa học bền vững, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Đề tài nhằm hướng đến giải quyết, xử lý hài hòa lợi ích, trách nhiệm giữa các bên liên quan và những bất cập đang nẩy sinh liên quan đến sử dụng tài nguyên nước, xây dựng các tiêu chí đánh giá tính bền vững trong sử dụng tài nguyên nước theo phương thức đồng quản lý. Xác lập cơ sở lý thuyết và thực tiễn và các giải pháp triển khai áp dụng hình thức đồng quản lý nhằm sử dụng bền vững tài nguyên nước tại khu vực hồ thủy điện Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài ra, còn có một số công trình khoa học khác như: Quy hoạch phát triển, đề án phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Hạ Long đã đánh giá hoạt động du lịch như là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
“Đề án Tăng cường công tác quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên vịnh Hạ Long giai đoạn 2013-2020 tầm nhìn đến năm 2030” Đánh giá hiệu quả: Khung đánh giá Quản lý các khu bảo tồn của Ủy ban các Khu bảo tồn Thế giới, Liên hiệp bảo tồn Thế giới (IUCN). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu trên thế giới Theo Xu S. (2002), thì việc đánh giá tính bền vững của mô hình quản lý được dựa trên các tiêu trí về hiệu quả kinh tế, cũng như sự đóng góp của khu Di sản thế giới đối với địa phương và lợi ích của nó mang lại cho cộng đồng địa phương.
Paola Gullino, Gabriele Loris Beccaro and Federica Larcher (2015) việc đánh giá và giám sát tính bền vững về di sản ở nông thôn, nghiên cứu đi sâu vào giá trị kinh tế, các chính sách Patricia Arceo và Alejandro Granados-Barba (2010), tiến hành nghiên cứu về đánh giá tính bền vững của khu bảo tồn biển tại Veracruz, Mexico. Nghiên cứu được tiến hành như một đường cơ sở để đánh giá tính bền vững của khu bảo tồn trong xu thế tiếp cận mở hiện nay. Nghiên cứu đã lựa chọn các chỉ số đánh giá dựa trên các thuộc tính bền vững và các tiêu chí được xác định sẵn sau khi phương pháp được sử dụng để đánh giá tính bền vững trong hệ thống nông nghiệp. Nghiên cứu đã sử dụng bảng hỏi điều tra đối với cộng đồng dân cư ngư dân sống xung quanh khu vực bảo tồn.
Kết quả cho thấy, chỉ số bền vững đối với hệ thống rạn san hô không cao và có sự khác nhau giữa chỉ số xã hội và kinh tế. Sau đó, nghiên cứu có thảo luận về việc áp dụng loại đánh giá này đối với việc quản lý khu vực bảo tồn này. Ausrine Armaitiene và Renata Bertuzyte (2014) đã đề cập đến khung khái niệm các xu hướng mới của quản lý di sản. Những nhiệm vụ mới trong việc quản lý các khu vực bảo tồn thành các điểm đến du lịch hay khai thác những lợi thế về sức khỏe của các di sản tự nhiên và các nguồn tài nguyên đã được quan sát trong toàn bộ châu Âu.
Các yếu tố khái niệm khung của quản lý di sản thế giới mới tại các khu vực di sản thế khu vực xa xôi được thảo luận trong nghiên cứu này như: du lịch sức khỏe thay vì các loại hình du lịch truyền thống; mạng lưới thu hút khách du lịch thay vì các hoạt động du lịch đơn lẻ. Một nghiên cứu của Kenneth M. Leung, Brian Morton và Joseph H. Lee (2015) về khung đánh giá về quản lý tổng hợp rủi ro môi trường nhằm nâng cao tính bền vững của các khu bảo tồn biển: Nghiên cứu trường hợp tại khu bảo tồn biển Cape d'Aguilar, Hồng Kông đã xây dựng khung đánh giá về quản lý tổng hợp rủi ro môi trường nhằm tăng thêm tính bền vững của các khu bảo tồn biển.
Nghiên cứu đã lựa chọn, tổng hợp và phân tích bộ chỉ số có sử dụng khung đánh giá này. Ảnh hưởng của các chương trình và cách thức quản lý cũng được đánh giá bằng cách so sánh sự 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân bố thời gian của các chỉ số này trong một khung thời gian nhất định. Dựa trên kết quả thu được, nghiên cứu đã xác định được yếu tố quan trọng nhất để bảo vệ tính toàn vẹn của khu bảo tồn biển và chỉ ra các khoảng trống thông tin hiện có liên quan đến việc quản lý khu bảo tồn. Bên cạnh Chương trình Giám sát phản hồi (Reactive Monitoring Mision) theo quy định của UNESCO, từ năm 2014 Tổ chức IUCN cũng xây dựng quy trình đánh giá “Triển vọng Di sản thế giới – IUCN World Heritage Outlook” để hướng dẫn công tác đánh giá hiệu quả quản lý Di sản.