Chương 1: Co sở lý luận về ngành thủy sản 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nguồn lợi thủy sản Nguồn lợi thủy san là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản. Nuôi trong thủy sản Nuôi trồng thủy sản là một khái niệm dùng dé chi tất cả các hình thức nuôi trồng động thực vật thiy sinh ở các môi trường nước ngọt lợ mặn (Pillay, 1990).
Khai thác thủy sản Khai thác thủy sản là một khái niệm dùng dé chỉ tất cả các hoạt động đánh bắt thủy hải sản trong vùng nước tự nhiên. Tuyến lộng Giới hạn từ độ sâu 10 — 30m. Vùng biển có độ dếc lớn hơn 30 độ, tuyến lộng cách bờ từ 6 đến 15 kilômét LLS. Tuyến khơi Giới hạn từ độ sâu 30m trở lên.
Vùng biển có độ đốc lớn hơn 30 độ,tuyến khơi có khoảng cách xa bờ ít nhất là 16 kilômét. Vai trò của thủy sản 1. Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dink dưỡng cho mọi người dân Việt Nam 50% sản lượng đánh bắt hai sản ở vùng biên Bắc Bộ, Trung Bộ va 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long được dùng làm thực phẩm cho nhu cau của người dân Việt Nam. Nuôi trồng thủy sản phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyến đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh đường dồi đào.
Từ các vùng đồng bằng tới trung du miễn núi, tất cả ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản. Trong thời gian tới các mặt hang thủy sản sẽ il ngày cảng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm cho moi ting lớp nhân dân Việt Nam. Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm Ngành thủy sản là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp. Ở tim vĩ mô, đưới góc độ ngành kinh tế quốc dân, ngành thủy sản đã góp phan đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn, Bên cạnh đó, ngành thủy sản còn góp phan tạo ra nhiêu việc làm cho cộng đồng nhân dân, đặc biệt là ở những vùng nông thôn va vùng ven bien.
Xóa đái giảm nghèo Ngành thủy sản đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghéo bằng việc phát triển các mô hình nuôi trồng thủy hải sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp nguồn dinh dưỡng, dam bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phan xóa đói giảm nghèo. Từ năm 2000, nuôi thủy sản nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang nuôi quảng canh cải tiền, bán thâm canh và thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp. Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hóa lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thủy sản. Chuyển dịch cơ cầu nông nghiệp nông thôn Việt Nam có day đủ điều kiện phát triển một cách toàn diện một nên kinh tế biển.
Nếu như trước đây việc lan ra biển, ngăn chặn những ảnh hưởng của biển để mở rộng đất đai canh tác là định hướng cho một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước thì hiện nay việc tiến ra biển, kẻo biển lại gần sẽ là định hướng khôn ngoan cho một nên kính tế công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Trong những thập kỉ qua, nhiều công trình hồ thủy điện đã được xây đựng, khiến nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, ven biển. Đối với nên nông nghiệp lúa nước thì nước mặn là một thảm họa, nhưng với nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lg thì nước mặn được nhận thức là một tiểm năng mới, vì hoạt động nuôi trồng thủy sản có thể cho hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt động canh tác lua nước. 12 Một phan lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu qua đã được chuyển sang nuôi trông thúy sản, nguyên nhân là do giá thủy sản trên thị trường thế giới trong những năm gan đây tang đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyên đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản vả nông ngiệp cảng trở nên cap bách.
Tạo nghề nghiệp mới, tăng hiệu quả sử dụng đất đai Ao hé nhỏ là một thé mạnh của nuôi trồng thủy sản ở các vùng nông thôn Việt Nam. Người nông dân sử dụng ao hồ nhỏ như một cách tận dụng đất đai và lao động. Hau như họ không phải chỉ phí nhiều tiền vốn vi phan lớn là nuôi quảng canh. Tuy nhiên, ngày càng nhiều người nông dân tận dụng các mặt nước ao hỗ nhỏ trong nuôi trong thủy sản nước ngọt với các hệ thông nuôi bán thâm canh và thâm canh có chọn lọc đối tượng cho năng suất cao như mẻ, tram, các loại cả chép, trôi An Độ va các loài cá rô phi đơn tính.
Nguén xuất khẩu quan trọng Trong nhiều năm liên, ngành thủy sản luôn giữ vị trí thử 3 hoặc thứ 4 trong bảng danh sách các ngảnh có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước. Ngành thủy sản còn lả một trong 10 ngảnh có kim ngạch xuất khẩu đạt trên | ty USD. Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt gần 2,7 tỷ USD. Đảm bảo chủ quyền quốc gia, dam bảo an ninh quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, nhất là ở vùng biển và hải đảo Ngành thủy sản luôn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền trên biển, dn định xã hội va phát triển kinh tế các vùng ven biến, hải đảo, góp phần thực hiện chiến lược quốc phỏng toàn dân và an ninh nhân dan.
Tính đến nay, rất nhiễu cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình Biển đông hai đảo, cụ thẻ là Cô Tô (Quang Ninh), Bạch Long Vĩ và Cát Ba (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hóa), Cên Có (Quảng Trị), Lí Sơn (Quảng Nam), Phú Quý (Bình Thuan), Côn Đảo (Ba Rịa — Vũng Tau), Hòn Khoai (Ca Mau), Nam Du, Thé Chu va Phú Quốc (Kiên Giang). Hệ thống cảng cá tuyến đảo này đã được hoản thiện đông bộ đẻ phục vụ sản xuất cá va góp phan bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của tổ quốc. Khái quát về hiện trạng phát triển của thủy sản Việt Nam Ngành thủy sản Việt Nam da va đang cỏ những bước phát triển đột phá. Sản lượng thủy sản năm 2005 là hơn 3,4 triệu tấn, lớn hơn sản lượng thịt cộng lại từ chăn nuôi gia súc, gia cằm.
Sản lượng thủy sản bình quân trên đầu người khoảng 42kg/năm. Nuôi trông thủy sản chiếm tỷ trọng ngảy càng cao trong cơ cau sản xuất vả giá trị sản lượng thủy sản.1: Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản một số năm Sam eves vai trjstn ri | 1998 | 1995 | 2MG | 2088 |Sanlugng(nghintén) | 890.9 Xba ge Tass Teco 1987.9 Lôi eng —_____ ise | 5.9 - Sach giáo khoa Địa lý 12) 1. Khai thác thủy sản Sản lượng khai thác thủy sản năm 2005 dat 1791 nghìn tan, gap 2,7 lần năm 1990, trong đó riéng cá biển là 1367 nghìn tắn. Sản lượng khai thác thủy sản nội địa đạt khoảng 200 nghìn tan.
Tất cả các tỉnh giáp biển đêu đây mạnh đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ có vai trò lớn hơn. Các tinh dẫn đầu về sản lượng đánh bắt là Kién Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Binh Thuận và Ca Mau. Riêng 4 tỉnh nay đã chiếm 38% sản lượng thủy sản khai thác của cả nước. Nuôi trong thủy sản Bảng 1.2: Sản lượng tôm nuôi, cá nuôi năm 1995 và 2005 phân theo vùng Teng oe ail Bic Bd tag — [8ð —T aot 0——| 41728 167517 (1331 | 8283 | 4824 (Nguon: Sach giáo khoa Địa ly 12) 14 Hiện nay nhiều loại thủy sản đã trở thành đối tượng nuôi trồng, nhưng quan trong hon cả là tôm.
Nghẻ nuôi tôm phát triển mạnh. Kỹ thuật nuôi tôm từ quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh cổng nghiệp. Đồng bằng sông Cứu Long lả vùng nuôi tôm lớn nhất, nôi bật là các tinh Cả Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh và Kiên Giang.1 : Sản lượng tôm nuôi, cá nuôi năm 2005 phân theo vùng Nghề nuôi cá nước ngọt cũng phát triển, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long va đồng bằng sông Hồng. Tinh An Giang nổi tiếng về nuôi cá tra, cá basa trong lồng bẻ trên sông Tiển, sỏng Hậu, với san lượng cá nuôi đạt 179 nghìn tấn (năm 2005) 1.
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam là nước có điều kiện thiên nhiên ưu đãi trong việc nuôi trồng và chế biến thủy sản. Ngành thuỷ sản đang dần từng bước khăng định mình và trở thành mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam. Hàng thủy san của Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD mỗi năm, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những nước cung ứng thuỷ sản lớn cho thế giới. Tuy nhiên, xuất khẩu thủy sản vẫn phải phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng của thé giới và văn hóa tiêu dùng của các quốc gia.
Theo số liệu thống ké của 15 Hải quan Việt Nam, trong giai đoạn 2006-2008, tốc độ tăng xuất khẩu hàng thuỷ san đạt trung bình 199%4/năm. Sau mức giảm 5,5% của năm 2009, xuất khẩu thuy san trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt 2,02 ty USD, tăng 14.5% so với cùng ky năm 2009. Mặc da trở thanh nước xuất khẩu thủy sản nhiều năm nhưng các mặt hang thuỷ sản xuất khẩu chú lực của Việt Nam vẫn còn khá đơn điệu, chủ yếu là cá, tôm, nhuyễn thẻ, các loại thuỷ sản đông lạnh và thuy sản khô. Tuy cơ cấu mặt hàng thùy san xuất khâu của nước ta đã được bổ sung thêm các mặt hàng có giá trị như cá ngừ, nghêu và một số đặc sản khác nhưng nhìn chung vẫn còn khá đơn điệu.
Công nghệ chế biến của ngành thủy sản Việt Nam vẫn chưa đáp ứng day đủ nhu cầu tiêu dùng của thé giới. Sau đây là một số mặt hang hải sản xuất khẩu chính cua Việt Nam.