CHƯƠNG 1. Giới thiệu chung 1. Khái quát sinh khối và năng lượng sinh khối Sinh khối (SK) là các vật liệu hữu cơ có nguồn gốc từ sinh vật có khả năng tái tạo như cây cối, phân gia súc, … khi được đốt cháy năng lượng sinh học này được giải phóng dưới dạng nhiệt. SK được xem là một phần của chu trình cacbon.
Cacbon từ khí quyển được biến đổi thành vật chất sinh học qua quá trình quang hợp của thực vật. Khi phân giải hoặc đốt cháy, cacbon quay trở lại khí quyển hoặc đất. Vì vậy cacbon khí quyển được giữ ở mức tương đối ổn định. Năng lượng sinh khối (NLSK) là năng lượng được sản sinh từ nguồn SK.
Bản chất của NLSK là năng lượng Mặt trời được lưu giữ trong SK thông qua quá trình quang hợp của cây cối để biến đổi CO 2 thành hiđratcacbon (đường, tinh bột, xenlulô) là những hợp chất cấu tạo nên SK. Khi sử dụng các SK này xảy ra quá trình giải phóng năng lượng tích trữ trong các hiđratcacbon và phát thải CO2 vào khí quyển. SK bao gồm nhiều dạng như thức ăn động vật, rơm rạ, vỏ trấu, gỗ vụn, chất thải từ thực phẩm. và được phân thành 3 loại như trong Bảng 1.
Phân loại và các dạng sinh khối [3] Phân loại Dạng Nguồn từ mùa màng Thức ăn nuôi đông vật và cây tinh bột Sinh khối chưa sử dụng Rơm, vỏ trấu, gỗ vụn và chất thải từ gỗ Chất thải từ giấy, phân động vật, chất thải từ Chất thải sinh khối thực phẩm, chất thải từ xây dựng, chất thải lỏng và bùn cống Trong cách dùng phổ biến hiện nay, hiểu theo nghĩa nhiên liệu thì sinh khối (biomas) là nhiên liệu rắn trên cơ sở SK, còn nhiên liệu sinh học (biofuel) Khoa học Môi trường 3 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh là những nhiên liệu lỏng được lấy từ SK và khí sinh học (biogas) là sản phẩm của quá trình phân giải yếm khí của các chất hữu cơ. Trong luận văn này chỉ đề cập đến nhiên liệu rắn từ các phụ phẩm của một số cây trồng. Những con đường biến đổi sinh khối Các nhiên liệu SK được sử dụng theo 2 con đường (Hình 1.1) đó là: oĐốt cháy trực tiếp để sinh nhiệt và điện; oBiến đổi thành những loại nhiên liệu khác tiện dụng hơn. SINH CÔNG §èt ch¸y trùc tiÕp Động cơ nhiệt CƠ KHỐI NHIỆT HỌC Biến đổi Đốt cháy Động điện, máy phát điện NHIÊN Pin nhiªn liÖu ĐIỆN LIỆU Hình 1.
Sơ đồ biến đổi nhiên liệu sinh khối [3] Nguồn SK rất đa dạng và phong phú vì vậy công nghệ NLSK cũng rất đa dạng. Các công nghệ NLSK có thể được chia làm 2 loại: - Công nghệ biến đổi trực tiếp SK thành năng lượng hữu ích như việc đốt trực tiếp SK để phục vụ sinh hoạt và phục vụ sản xuất; - Công nghệ trong đó SK được biến đổi thành các nhiên liệu thứ cấp khác như: đóng bánh SK, sản xuất than gỗ, khí hoá. Các công nghệ được thực hiện thông qua 3 quá trình là vật lý, nhiệt hoá và sinh học (Hình 1. Khoa học Môi trường 4 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh Nén chặt, sấy Viên,bó, bánh Các quá trình Vật lý Giảm kích cỡ Gỗ vụn, mùn cưa trấu,… Ép Dầu thực vật Sử dụng Các quá trình Đốt năng Nhiệt hoá lượng Sinh khối Khí hoá Khí tổng hợp cuối cùng Nhiệt phân Khí, dầu, cốc Lên men rượu Etanol Sinh học Các quá trình Phân giải kỵ khí Khí sinh học Hình 1.
Các con đường biến đổi sinh khối thành nhiên liệu [2] Quá trình vật lý: Thường sử dụng chất thải SK ở dạng gốc (vỏ dừa, chất hữu cơ phơi khô: mùn cưa, vỏ trấu…) đóng bánh với đường kính viên ép là 55 ÷ 65 mm, trọng lượng mỗi bánh từ 5 ÷ 50 kg. Chất lượng cháy, hiệu suất thu hồi nhiệt cao hơn khi đốt củi hoặc đốt than hầm. Về phương diện kinh tế giá thành vẫn còn cao so với đốt vật liệu trước khi ép. Tuy nhiên, quá trình này tạo thuận lợi cho việc vận chuyển vì thể tích chất phế thải được thu nhỏ.
Quá trình nhiệt hoá - Đốt cháy: Đốt là quá trình xử lý biến đổi SK hoặc chất thải thành nhiệt và hơi nước. Năng lượng được sản xuất ra thường chỉ là một sản phẩm thứ cấp bên cạnh quá trình này. Mặt khác nhiệt và hơi nước sản xuất ra có thể biến đổi sang Khoa học Môi trường 5 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh điện hoặc được trực tiếp sử dụng như nguồn năng lượng. Các hệ thống đốt SK chủ yếu được thiết kế cho gỗ và phụ phẩm nông nghiệp.
Trong nhiều nước công nghiệp phát triển, chất thải rắn cũng được đốt để giảm lượng chất thải và sử dụng năng lượng được tạo ra. Đây là công nghệ hiện đại vì vậy chi phí đầu tư cao; - Khí hoá: Nhiệt độ trong quá trình khí hoá tương đối cao. Lượng không khí cung cấp vào quá trình này hạn chế (oxy hoá một phần) sẽ biến SK thành nhiên liệu khí (50% là N, 20% là CO và 15% H 2). Khí tạo ra với nhiệt trị thấp, được sử dụng trong làm khô, kéo tuốcbin khí hoặc làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong; - Nhiệt phân: Là quá trình biến đổi SK thành 3 phần: nhiên liệu lỏng, hỗn hợp khí gọi là “khí phát sinh” và các chất thải rắn.
Quá trình nhiệt phân SK với nhiệt độ cao, mức độ oxy hoá thấp, không được cháy hoàn toàn do nhiệt phân nhanh và phát sáng. Quá trình sinh học - Lên men rượu: Đường, cặn và các chất hữu cơ xenlulô được biến đổi nhờ vi khuẩn và chuyển sang các sản phẩm có gốc rượu cồn. Sản phẩm êtanol tương đối tinh khiết sau khi được chưng cất. Công nghệ này phát triển rộng vì rượu được dùng phổ biến.
Do đòi hỏi vốn đầu tư lớn và cần nhiều nguyên liệu đầu vào nên công nghệ lên men chưa có hiệu quả cao; - Phân giải yếm khí: Ủ chất thải trong hầm là một quá trình vi sinh tự nhiên làm phân huỷ chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí (thiếu oxy). Điều này xảy ra ở các hệ thống không được kiểm soát như trong các đống phế thải, các bãi rác hoặc trong điều kiện có kiểm soát (như các lò khí sinh học, các bãi rác có kiểm soát v. Mục đích chính của công nghệ yếm khí là tạo ra khí năng lượng cao (chứa đến 70% khí CH4); tạo ra phân và làm giảm ô nhiễm môi trường. Quá trình yếm khí được sử dụng rộng rãi để xử lý nước thải công nghiệp và các chất thải dạng bùn sệt, phân dùng trong nông nghiệp.
Việc xử lý chất thải rắn (các Khoa học Môi trường 6 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh chất hữu cơ đã được phân tách ra) là ứng dụng tương đối mới, nhưng được phổ cập nhanh vì có ưu điểm là tạo ra năng lượng. Khoa học Môi trường 7 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh 1. Những ưu điểm và hạn chế của nhiên liệu sinh khối Ưu điểm: - Có khả năng tái tạo; - Được dự trữ trong nhiều nguồn; - Có khả năng lưu trữ: có thể được biến đổi thành dạng năng lượng khác ; - Hạn chế sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng hoá thạch; - Hạn chế sự gia tăng ô nhiễm môi trường từ các chất thải của năng lượng hoá thạch; - Việc sử dụng NLSK giúp tận dụng được các chất thải SK góp phần làm sạch môi trường.2 đưa ra một số các chỉ tiêu so sánh NLSK với các nguồn NLTT khác. Năng lượng sinh khối so với các nguồn năng lượng tái tạo khác [3] Nguồn năng lượng Chỉ tiêu so sánh Mặt trời Gió Sinh khối Tổng đầu tư (triệu USD) 1.300 Quy mô nhà máy (kW) 1.000 Tỷ lệ hoạt động hàng năm (%) 12 20 70 Công suất điện phát hàng năm 1.300 (M kw/h) Đơn vị đầu tư (USD/kW) 1,66 0,72 0,1 Hạn chế: - Hiệu suất sinh năng lượng thấp (7 ÷ 11%) do công nghệ sản xuất cũng như bản thân khả năng sinh năng lượng của các phụ phẩm SK; - Phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, khí hậu; - Việc thu gom tập trung và lưu trữ gặp khó khăn; - Quá trình chuyển đổi năng lượng phức tạp; - Chịu sức ép từ các nhu cầu sử dụng SK khác.
Khoa học Môi trường 8 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh 1. Hàm lượng nước và năng suất nhiệt của sinh khối 1. Hàm lượng nước của sinh khối và lựa chọn quá trình chuyển đổi sinh khối Hàm lượng nước trong SK được lấy từ polime tự nhiên. Giá trị hàm lượng nước khác nhau rất lớn phụ thuộc vào loại SK (giấy: 20%, chất thải động vật, chất cặn bã lên men rượu và bùn cống: 98 99%).
Mối quan hệ giữa hàm lượng nước và năng suất nhiệt của SK được thể hiện trên Hình 1. Hàm lượng nước trong gỗ tươi khoảng 50%, khi phơi khô còn khoảng 30% và đến mức tối đa lượng nước còn khoảng 20%. Hàm lượng nước và năng suất nhiệt của sinh khối [16] Các SK có hàm lượng nước khác nhau có các quá trình chuyển đổi năng lượng khác nhau (Hình 1. Đối với những SK khô (dưới 50%) có thể đốt trực tiếp bằng lò hơi tạo hơi nước nóng để phát điện.
Những SK có chứa hàm lượng nước cao (trên 75%) như: chất thải động vật, chất cặn bã lên men rượu và bùn Khoa học Môi trường 9 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh cống hiệu quả sinh nhiệt thấp, nên phương pháp phổ biến hiện nay là quá trình lên men êtanol và khí mêtan. Lựa chọn quá trình chuyển đổi SK theo hàm lượng nước [15] 1. Năng suất nhiệt của sinh khối Năng suất nhiệt của SK bằng khoảng một nửa năng suất nhiệt của nhiên liệu hoá thạch tuy nhiên hàm lượng lưu huỳnh trong SK và tro gỗ rất thấp (Hình 1. Do vậy, sử dụng nguyên liệu SK có lợi cho môi trường hơn.
So sánh một số thành phần trong nhiên liệu hoá thạch và SK [16] Khoa học Môi trường 10 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh Trong Bảng 1.3 đưa ra giá trị sinh nhiệt của nhiên liệu SK và nhiên liệu hoá thạch.