Chương 1 TỔNG QUAN 1. Công tác quản lý an toàn hóa chất trên thế giới Đã từ rất lâu, trên thế giới đã quan tâm đến công tác quản lý, an toàn hóa chất, do nhận thức được vai trò của hóa chất và tác hại của nó trong đời sống con người và môi trường. Thuật ngữ hóa chất trong quản lý hóa chất được hiểu theo nghĩa rộng và thường bao gồm tất cả các loại chất, hỗn dược độc hại và cả các mối nguy hiểm vật lý. Rất nhiều công ước Quốc tế (Basel, Rotterdam và Stockholm, Minamata…) đã được công bố và áp dụng, nhiều chuẩn mực của nhiều quốc gia khác nhau được quy định và sử dụng tại nhiều quốc gia và khu vực;… tất cả cho thấy những nỗ lực toàn cầu hiện nay để chống lại các mối nguy hại từ hóa chất, nhằm sử dụng và quản lý hóa chất an toàn.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là một trong những tổ chức quan trọng nhất cần được kể đến khi đề cập đến đóng góp trong lĩnh vực này. Kể từ khi thành lập vào năm 1919, ILO đã hoạt động trong lĩnh vực an toàn trong sử dụng hóa chất tại nơi làm việc. ILO phát triển các điều ước quốc tế và các công cụ kỹ thuật, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc gia thành viên và phát triển của hệ thống thông tin an toàn hóa chất. Hai tiêu chuẩn chính của ILO trong lĩnh vực này: Công ước về an toàn trong sử dụng hóa chất tại nơi làm việc (Số 170, 1990) và Phòng ngừa Tai nạn Công nghiệp lớn (Số 174, 1993).
Chương trình ILO về an toàn lao động, sức khỏe và môi trường (Công việc an toàn) hiện chịu trách nhiệm cho các hoạt động an toàn hóa chất ILO. Trong hai thập kỷ qua, hầu hết các công việc của ILO trong lĩnh vực này đã được thực hiện trong bối cảnh các khuôn khổ hợp tác liên cơ quan liên kết giữa ILO, WHO, UNEP, FAO, UNIDO, UNITAR và OECD, bao gồm: - Chương trình quốc tế về an toàn hóa chất (IPCS) - Chương trình liên tổ chức quản lý âm thanh hóa chất (IOMC) - Diễn đàn liên chính phủ về an toàn hóa chất (IFCS). 7 Quản lý an toàn Hóa chất đạt được bằng cách thực hiện quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến hóa chất nhằm đảm bảo an toàn cho sức khỏe con người và môi trường. Công tác quản lý hóa chất không chỉ là quản lý các hóa chất về số lượng, chất lượng; mà còn là quản lý đầy đủ từ sự tồn tại của hóa chất trong môi trường đến tổng hợp, sản xuất công nghiệp, sử dụng vận chuyển, thải bỏ, sang chiết…; cũng như các tình huống tiếp xúc, khả năng xảy ra sự cố và xử lý sự cố liên quan đến hóa chất.
Với những hóa chất có đặc tính độc hại, độc sinh thái…, cần có những thông tin chi tiết về phơi nhiễm, các tác động sinh học và quy trình đánh giá rủi ro hóa chất. Chương trình Quốc tế về An toàn Hóa chất (IPCS) đã thiết lập cơ sở khoa học cho việc quản lý hợp lý các hóa chất và tăng cường năng lực và năng lực quốc gia về an toàn hóa chất. Chương trình này được thành lập năm 1980, là chương trình chung của ba Tổ chức Hợp tác - WHO, ILO và UNEP, thực hiện các hoạt động liên quan đến an toàn hóa chất. WHO là Cơ quan điều hành của IPCS, có vai trò chính là thiết lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng an toàn hóa chất và tăng cường năng lực và năng lực quốc gia về an toàn hóa chất [15].
Ngoài việc phát triển thường xuyên, cập nhật và phổ biến các cơ sở dữ liệu thông tin an toàn hóa chất, việc xây dựng một hệ thống hài hòa toàn cầu để phân loại và dán nhãn Hóa chất (GHS) là thành tựu nổi bật nhất của sự hợp tác quốc tế về quản lý an toàn hóa chất; Năm 1992, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc, các nước đã thỏa thuận thiết lập Hệ thống hài hòa toàn cầu về phân loại và ghi nhãn hóa chất [16]. Hệ thống này giúp cho công việc quản lý và tiêu thụ hóa chất một cách an toàn. Năm 2003 ấn phẩm đầu tiên được xuất bản đi vào hoạt động thực tế từ năm 2008. Trong kế hoạch phát triển quy định phân loại và ghi nhãn hóa chất, có bao gồm thêm các chương trình hành động nhằm giúp các nước đang phát triển xây dựng cơ sở dữ liệu và triển khai hệ thống này [9].
Hiện nay sự phát triển của công nghệ số chính vì vậy các thông tin về các loại hóa chất đã được công bố rộng rãi, đặc biệt là trên hệ thống mạng online. Nhưng thực tế hiện nay vẫn còn rất nhiều hóa chất chưa có dữ liệu thích hợp, ngay cả những thông tin sơ bộ để ước tính các mối nguy cơ cơ bản, mặc dù chúng được sử dụng tương đối rộng rãi trong đời sống. 8 Theo các văn bản luật và quy định, đặc biệt về hợp tác quốc tế trong quản lý hóa chất, mọi công dân đều có quyền và nghĩa vụ biết về thông tin chi tiết các hóa chất tại từng quốc gia và các nước trên thế giới. Trung Quốc không chỉ là một trong những nước sản xuất hóa chất lớn hàng đầu trên thế giới, mà còn là nước có lượng hóa chất được sử dụng đứng đầu.
Tại nước này, từ người sử dụng lao động (NSDLĐ) đến người lao động (NLĐ) phải có nghĩa vụ tham gia đào tạo nghiệp vụ về an toàn kỹ thuật hóa chất. Cụ thể NSDLĐ được yêu cầu phải tuân thủ theo các quy định trong luật về tổ chức quản lý hoạt động hóa chất, sử dụng và thải bỏ hóa chất; đặc biệt, phải có trách nhiệm đảm bảo sức khỏe cho NLĐ khi tham gia sản xuất, có sử dụng hóa chất [4]. Theo quy định về an toàn, vệ sinh lao động tại nước này, NSDLĐ phải xây dựng kế hoạch và thực hiện việc đảm bảo sức khỏe và an toàn hóa chất; đảm bảo đầy đủ biện pháp để kiểm soát các nguy cơ và phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. NLĐ phải được kiểm tra sức khỏe định kỳ, bao gồm kiểm tra trước – trong khi đang làm việc và sau khi nghỉ việc, đặc biệt chú trọng với các trường hợp đã bị mắc bệnh tại nơi làm việc.
Các chi phí cho quá trình kiểm tra sức khỏe, chẩn đoán bệnh nghề nghiệp được NSDLĐ chi trả toàn bộ; đồng thời phải có báo cáo chi tiết từ khi NLĐ tham gia làm việc cho đến khi NLĐ thôi việc. Thông qua hoạt động khám bệnh và kết quả phân tích của Y tế, NSDLĐ phải lập kế hoạch và triển khai các biện pháp cụ thể để phát hiện, ngăn ngừa, giảm thiểu bệnh nghề nghiệp, các tai nạn lao động liên quan đến hóa chất tại khu vực lao động. Công tác quản lý an toàn hóa chất trong các khu xử lý chất thải công nghiệp nguy hại tại Việt Nam 1. Tình hình phát sinh chất thải nguy hại Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Công nghiệp hóa, đô thị hóa và dân số tăng nhanh cùng với mức sống được nâng cao là những nguyên nhân chính dẫn đến lượng chất thải (rắn, lỏng, khí) phát sinh ngày càng lớn Chính do tốc độ phát triển kinh tế - xã hội khả năng đầu tư có hạn, việc quản lý chưa chặt chẽ cho nên việc quản lý tại các khu đô thị, các nơi tập chung dân cư với số lượng lớn, các khu công nghiệp, mức độ ô nhiễm do chất thải rắn 9 (CTR), đặc biệt, chất thải nguy hại (CTNH) gây ra thường vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Theo kết quả thống kê, năm 2003 lượng CTNH phát sinh vào khoảng 160 nghìn tấn và dự báo sẽ tăng lên 500 nghìn tấn vào năm 2010. Nhưng thực tế đến năm 2009, theo báo cáo của 35/63 tỉnh thành phố, lượng CTNH phát sinh từ các địa phương này đã vào khoảng 700 nghìn tấn. Năm 2009, lượng CTNH được thu gom, vận chuyển, xử lý bởi các đơn vị hành nghề quản lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường cấp phép là hơn 100 nghìn tấn.
Tổng số lượng CTNH được thu gom, xử lý được trong năm 2012 là 165. Có thể thấy, các đơn vị chỉ xử lý được một phần rất nhỏ trong tổng lượng phát sinh. Tỷ lệ xử lý chất thải nguy hại của các đơn vị hành nghề quản lý chất thải nguy hại Năm 2003 2009 2012 2013 2014 Phát sinh (tấn) 160 700.000 Thu gom, xử lý (tấn) 100.275 % được xử lý 14,29% (Nguồn: URENCO10 từ năm 2003-2014) Dưới đây là bảng tổng kết của Công ty Cổ phần Môi trường đô thị và Công nghiệp 10 - URENCO10 về thành phần chất thải nguy hại từ các doanh nghiệp thuộc địa bản thu gom, quản lý và xử lý của công ty đã được Công ty xử lý năm 2017 (bảng 1. Phát sinh chất thải nguy hại ở các doanh nghiệp trên cả nước Số Nhóm Khối lượng Tỷ lệ Trạng thái TT Nguồn gốc CTNH doanh CTNH (1000 kg) (%) tồn tại nghiệp Chất thải bao bì, chất 1 hấp thụ, giẻ lau vật liệu 18 126 12.608,81 53,2 Rắn lọc và vải bảo vệ Che phủ bề mặt, gia Rắn, lỏng, 2 07 122 3.875,58 16,9 công kim loại bùn 10 Số Nhóm Khối lượng Tỷ lệ Trạng thái TT Nguồn gốc CTNH doanh CTNH (1000 kg) (%) tồn tại nghiệp 3 Xây dựng và phá dỡ 11 22 2.242,56 9,7 Rắn 4 Ngành y tế và thú y 13 74 1.