Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại Việt Nam, dân cư sống bằng nghề canh tác nông nghiệp chiếm khoảng 70%, với tổng diện tích đất nông nghiệp đạt khoảng 9 triệu ha, trong đó có hơn 4 triệu ha là đất trồng lúa và phần còn lại dành cho hoa màu, cây trồng lâu năm. Nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực trong bối cảnh gia tăng dân số, đô thị hóa và công nghiệp hóa, phương thức thâm canh tăng vụ được áp dụng phổ biến. Quá trình thâm canh dẫn tới sự mất cân bằng sinh thái, kéo theo sự bùng phát của các loài sinh vật gây hại, buộc người sản xuất phải gia tăng sử dụng các biện pháp hóa học để bảo vệ năng suất. Tuy nhiên, thói quen lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), áp dụng phương châm "phòng hơn chống" bằng hình thức phun định kỳ đã tiêu diệt các loài thiên địch có ích, làm gia tăng tính kháng thuốc của sâu bệnh và khiến lượng hóa chất sử dụng ngày càng tăng.

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học môi trường của tác giả Nguyễn Văn Hằng (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2015, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Phả) được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học và thực tiễn tại địa phương thông qua 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Tìm hiểu thực trạng sử dụng và ảnh hưởng của thuốc BVTV trên địa bàn khu vực xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đánh giá hiểu biết, tình hình sử dụng thuốc BVTV và ảnh hưởng của việc ô nhiễm thuốc BVTV đến sức khỏe người dân địa phương.
  3. Trên cơ sở đánh giá để đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm do thuốc BVTV, nâng cao ý thức người dân cũng như hiệu quả công tác quản lý thuốc BVTV tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loại hóa chất bảo vệ thực vật được lưu thông, kinh doanh và sử dụng trong sản xuất nông nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn 12 xóm thuộc xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp và khảo sát thực địa được thu thập từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2015; số liệu thứ cấp về sản xuất nông nghiệp kế thừa trong năm 2014 và đầu năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên hệ thống khái niệm chuyên ngành, khung văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các phương pháp điều tra xã hội học môi trường kết hợp thống kê mô tả.

Hệ thống khái niệm và khung pháp lý

  • Khái niệm chuyên môn: Tác giả sử dụng các định nghĩa về môi trường, hóa chất BVTV, thuốc BVTV (theo Trần Văn Hải, 2008); khái niệm chất độc, độ độc cấp tính ($LD_{50}$, $LC_{50}$), độ độc mãn tính (trường diễn) (theo Trần Oánh và cộng sự, 2007); phân loại độc tính thuốc BVTV theo thang phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gồm 4 nhóm: Nhóm I (Rất độc - vạch đỏ), Nhóm II (Độc cao - vạch vàng), Nhóm III (Nguy hiểm - vạch xanh nước biển), Nhóm IV (Cẩn thận - vạch xanh lá cây); nguyên tắc sử dụng thuốc "4 đúng" (đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng cách) và thời gian cách ly.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:
    • Luật Bảo vệ môi trường số 29/2005/L-CTN.
    • Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật ngày 15/02/1993 (và công bố sửa đổi tháng 8/2001).
    • Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg về Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
    • Quyết định số 89/2006/QĐ-BNN và Quyết định số 63/2007/QĐ-BNN về quản lý thuốc BVTV.
    • Nghị định số 58/2002/NĐ-CP về Điều lệ BVTV và Nghị định số 26/2003/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kiểm dịch, bảo vệ thực vật.
    • Thông tư số 38/2010/TT-BNN và Công văn số 1538/BVTV-QLT; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại; Thông tư số 36/2011/TT-BNNPTNT, Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT và Thông tư số 21/2013/TT-BNNPTNT quy định danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng (1.634 hoạt chất), hạn chế sử dụng (12 hoạt chất) và cấm sử dụng (29 hoạt chất); Chỉ thị số 1504/CT-BNN-BVTV ngày 03/06/2009.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp kế thừa: Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê diện tích gieo trồng, dịch bệnh từ UBND xã Tân Thành và Trạm BVTV huyện Phú Bình; tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Quan sát thực địa, ghi chép hành vi pha chế, phun rải thuốc, tình trạng vứt bỏ bao bì, vỏ chai thuốc BVTV trên đồng ruộng, mương máng và đường làng ngõ xóm.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phiếu phỏng vấn): Xây dựng phiếu điều tra gồm 2 phần (thông tin chung và các vấn đề liên quan tới thuốc BVTV). Cỡ mẫu thực hiện gồm:
    • Phỏng vấn 140 hộ nông dân trực tiếp sử dụng thuốc BVTV tại 12 xóm trên địa bàn xã.
    • Phỏng vấn 5 chủ cơ sở kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV trên địa bàn.
    • Phỏng vấn cán bộ chuyên trách tại Trạm BVTV xã Tân Thành.
  • Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Dữ liệu điều tra được tổng hợp, phân loại và xử lý thống kê mô tả (tính tần suất, tỷ lệ phần trăm) bằng phần mềm Microsoft Excel và soạn thảo trên Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc đánh giá thực trạng ô nhiễm hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp tại xã Tân Thành. Xác định mục tiêu nghiên cứu, 5 yêu cầu cụ thể đối với số liệu điều tra (tính đại diện, tính khách quan, sử dụng phiếu chuẩn hóa, tính khả thi của giải pháp) và ý nghĩa lý luận, thực tiễn trong công tác quản lý môi trường tại cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở khoa học về thuốc BVTV, phân loại độc tính và cơ chế lan truyền hóa chất trong môi trường (đất, nước, không khí, sinh vật, chuỗi thức ăn). Đưa ra các bằng chứng khoa học về tác động tiêu cực của thuốc BVTV: khoảng 50% lượng thuốc phun bị rơi xuống đất, ước tính 90% lượng thuốc không tiếp xúc trúng mục tiêu diệt dịch hại mà phát tán ra môi trường; dẫn chứng số liệu của WHO (25 - 39 triệu lao động nông nghiệp nhiễm độc/năm, 220.000 ca tử vong) và nghiên cứu của Hà Minh Trung cùng cộng sự (tỷ lệ nhiễm độc mãn tính nghề nghiệp tại Việt Nam là 18,26%, tương đương khoảng 2,1 triệu người). Tổng thuật lịch sử quản lý thuốc BVTV qua các thời kỳ và hệ thống văn bản pháp luật hiện hành tại Việt Nam.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng, phạm vi không gian, thời gian thực hiện đề tài (từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2015). Quy định rõ 3 nội dung nghiên cứu trọng tâm và quy trình triển khai 4 phương pháp nghiên cứu (kế thừa số liệu, khảo sát sơ cấp hiện trường, điều tra phỏng vấn 140 hộ dân cùng 5 cơ sở kinh doanh, phân tích xử lý dữ liệu).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung phản ánh thực trạng sản xuất, quản lý kinh doanh, khối lượng sử dụng hóa chất qua các vụ mùa, tập quán bảo hộ lao động, cách xử lý bao bì và ảnh hưởng sức khỏe ghi nhận được tại xã Tân Thành:

  • Tình hình sản xuất và quản lý kinh doanh: Năm 2014, diện tích cấy lúa của xã là 476 ha (lúa chiêm xuân 125 ha, sản lượng 537,5 tấn; lúa mùa muộn 351 ha, sản lượng 1.484,73 tấn), cây ngô 145 ha (sản lượng 597,4 tấn), cây khoai 90 ha (630 tấn), cây sắn 100 ha (1.000 tấn), cây ăn quả 40 ha, rau màu khác 20 ha. Tổng diện tích nhiễm sâu bệnh năm 2014 là 668,15 ha, diện tích phòng trừ là 1.053,31 ha. Toàn xã có 5 cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, trong đó 1 cơ sở thuộc nhà nước (Trạm BVTV, chiếm 20%) và 4 cơ sở tư nhân (chiếm 80%). Trong 4 cơ sở tư nhân, có 1 cơ sở chưa được cấp giấy phép hành nghề (chiếm 25% cơ sở tư nhân, tương đương 20% tổng số cơ sở trên địa bàn).
Chỉ tiêu quản lý kinh doanh Số lượng (cơ sở) Tỷ lệ (%)
Tổng số cơ sở kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV 5 100,0
Cơ sở thuộc nhà nước (Trạm BVTV xã) 1 20,0
Cơ sở kinh doanh tư nhân 4 80,0
Cơ sở tư nhân đã được cấp giấy phép hành nghề 3 75,0 (trong nhóm tư nhân)
Cơ sở tư nhân chưa được cấp giấy phép hành nghề 1 25,0 (trong nhóm tư nhân)
  • Chủng loại và mức độ sử dụng thuốc BVTV: Khảo sát ghi nhận 13 loại thuốc thương phẩm được sử dụng phổ biến, 100% nằm trong danh mục cho phép. Cơ cấu chủng loại gồm: thuốc trừ sâu (4 loại, chiếm 30,7%), thuốc trừ bệnh (3 loại, chiếm 23,1%), thuốc diệt cỏ (3 loại, chiếm 23,1%), thuốc kích thích sinh trưởng (1 loại, chiếm 7,7%), thuốc trừ ốc bươu vàng (1 loại, chiếm 7,7%) và thuốc diệt chuột (1 loại, chiếm 7,7%). Tỷ lệ người dân sử dụng thuốc thường xuyên là 13,6% (19/140 hộ), sử dụng khi cần thiết là 73,5% (103/140 hộ), không sử dụng là 12,9% (18/140 hộ).
Mùa vụ canh tác Diện tích gieo trồng (ha) Khối lượng thuốc BVTV sử dụng (kg) Lượng thuốc dùng cho cây lúa (kg) Tỷ trọng thuốc dùng cho cây lúa (%)
Vụ xuân năm 2014 362 60,07 – 98,52 31,25 – 50,00 ~51,0 – 52,0
Vụ mùa năm 2014 N/A (Lúa: 351, Màu: 130, Rau: 8) 134,65 – 234,39 105,30 – 193,05 ~78,0 – 82,0
Cả năm 2014 (tổng hợp) - 194,72 – 332,91 136,55 – 243,05 70,13 – 73,0
Vụ xuân năm 2015 338 58,40 – 94,70 32,50 – 52,00 ~55,0 – 55,6
  • Hiểu biết, hành vi pha chế và sử dụng bảo hộ lao động: Trong 140 người được phỏng vấn, 67,9% có tìm hiểu nguồn gốc thuốc, 100% quan tâm tới hiệu quả trừ sâu, 89,3% quan tâm ảnh hưởng sức khỏe. Tuy nhiên, tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về điều kiện sức khỏe khi phun thuốc chỉ đạt 22,2% (có tới 92,14% không biết việc cần khám sức khỏe định kỳ và 73,6% không biết quy định không phun quá 2 giờ/ngày, 2 tuần/đợt). Về thực hành bảo hộ lao động, chỉ có 16,4% (23/140 người) trang bị đầy đủ bảo hộ; tỷ lệ đeo kính mắt chỉ đạt 6,4% (131/140 người không đeo kính, chiếm 93,6%). Về kỹ thuật pha thuốc, 55,7% pha theo chỉ dẫn cán bộ khuyến nông, 16,4% tự ý pha theo lượng sâu bệnh, 27,9% pha theo hướng dẫn nhưng tự ý kết hợp thêm các loại thuốc khác.
Hành vi xử lý bao bì sau khi sử dụng Số người (n = 140) Tỷ lệ (%)
Bỏ tại nơi sử dụng (bờ ruộng, lòng ruộng, đường đi) 58 41,43
Vứt ra sông, ao, hồ, kênh, mương 37 26,43
Bỏ vào nơi đổ rác trên đường về 25 17,86
Bỏ vào bể thu gom đặt ngoài đồng 15 10,72
Tự chôn, đốt trong vườn 5 3,57
  • Ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và môi trường: Trong số người trực tiếp phun thuốc (83% nam, 17% nữ, độ tuổi từ 20 đến 60 tuổi), tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng ngộ độc cơ năng rất cao: uể oải (86,43%), đau đầu (83,57%), da mẩn ngứa (82,14%), hoa mắt, chóng mặt (78,57%), buồn nôn (70,71%), mệt mỏi khó chịu (66,43%), mất ngủ (62,14%), chảy nước mắt (60,0%). Tỷ lệ mắc các bệnh lý thực thể ghi nhận cao nhất ở nhóm bệnh về mắt (95,0%) và mũi họng (89,29%), tiếp đến là cơ xương khớp (71,43%), da liễu (60,71%), tiêu hóa (59,29%), tâm thần kinh (57,14%), hô hấp (35,71%), tiết niệu (21,43%) và tim mạch (11,43%). Về nhận thức môi trường, 95,0% người dân nhận thấy dấu hiệu bất thường của môi trường không khí (mùi nồng nặc bốc lên trong những ngày nắng nóng), 30,71% nhận thấy dấu hiệu lạ ở môi trường nước và 10,71% ở môi trường đất.
  • Đề xuất giải pháp: Tác giả chia thành 2 nhóm giải pháp: Giải pháp quản lý (kiểm soát chặt chẽ cấp phép cơ sở tư nhân, tăng cường thanh tra, đẩy mạnh tập huấn kỹ thuật "4 đúng", lồng ghép tiêu chí nông thôn mới) và Giải pháp xử lý (xây dựng bổ sung hệ thống bể chứa bao bì đạt chuẩn ngoài cánh đồng, tổ chức thu gom định kỳ để tiêu hủy an toàn theo quy định chất thải nguy hại).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các kết quả định lượng đạt được, khẳng định tình trạng lạm dụng thuốc BVTV và xử lý bao bì không đúng quy chuẩn là nguyên nhân trực tiếp gây ô nhiễm môi trường cục bộ và suy giảm sức khỏe người dân xã Tân Thành. Đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền địa phương, Trạm BVTV và các cơ quan quản lý cấp trên nhằm siết chặt quản lý kinh doanh nông dược và hỗ trợ kinh phí xử lý chất thải độc hại.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực chứng

  1. Thực trạng kinh doanh và sử dụng: Toàn bộ 13 loại thuốc BVTV khảo sát đều thuộc danh mục cho phép. Tuy nhiên, công tác quản lý tư nhân còn lỏng lẻo với 25% cửa hàng tư nhân chưa được cấp phép. Tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ trên địa bàn năm 2014 dao động từ 194,72 đến 332,91 kg, trong đó cây lúa tiêu thụ nhiều nhất (chiếm 70,13 – 73,0%, tương đương 136,55 – 243,05 kg). Vụ mùa có lượng thuốc sử dụng cao hơn vụ xuân do điều kiện thời tiết nóng ẩm thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh.
  2. Thực hành an toàn lao động và xả thải: Tỷ lệ người dân tuân thủ đầy đủ bảo hộ lao động đạt mức rất thấp (16,4%); tỷ lệ sử dụng kính bảo vệ mắt chỉ đạt 6,4%. Có tới 67,86% lượng bao bì, vỏ chai thuốc BVTV bị thải bỏ trực tiếp ra môi trường tự nhiên (41,43% vứt ngay tại bờ/ruộng và 26,43% vứt xuống kênh mương, ao hồ), chỉ có 10,72% được thu gom vào bể chứa chuyên dụng.
  3. Chỉ số phơi nhiễm sức khỏe: Khóa luận xác định tỷ lệ cao các triệu chứng cơ năng cấp và bán cấp ở người phun thuốc như uể oải (86,43%), đau đầu (83,57%), da mẩn ngứa (82,14%), hoa mắt chóng mặt (78,57%). Tỷ lệ mắc các bệnh liên quan trực tiếp đến cơ quan tiếp xúc không có bảo hộ đạt mức báo động: bệnh về mắt chiếm 95,0% và bệnh mũi họng chiếm 89,29%.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Tăng cường kiểm tra, rà soát điều kiện cấp phép hành nghề đối với các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV tư nhân; xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán hàng kém chất lượng hoặc không có giấy phép.
  • Triển khai xây dựng đồng bộ hệ thống bể thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV đặt tại các khu vực canh tác tập trung; quy định quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý theo quy chuẩn chất thải nguy hại.
  • Đổi mới công tác khuyến nông, hướng dẫn nông dân tuân thủ nguyên tắc "4 đúng", thực hiện thời gian cách ly, bắt buộc trang bị bảo hộ lao động (đặc biệt là kính mắt và khẩu trang đạt chuẩn) và hướng dẫn pha trộn thuốc đúng kỹ thuật.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp một bộ dữ liệu điều tra thực nghiệm chi tiết, phản ánh chân thực mối tương quan giữa tập quán canh tác, hành vi sử dụng bảo hộ lao động thiếu chuẩn mực và tình trạng xả thải bao bì thuốc BVTV với tỷ lệ triệu chứng bệnh lý ở người nông dân tại một địa bàn nông thôn cụ thể (xã Tân Thành, huyện Phú Bình). Kết quả này đóng góp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho chính quyền xã trong việc thực hiện Tiêu chí 17.5 về môi trường thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi không gian của 1 xã (xã Tân Thành) và thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ tháng 01 đến tháng 05/2015). Các dữ liệu về ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và triệu chứng bệnh lý của người dân chủ yếu dựa trên phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và quan sát cảm quan, chưa có điều kiện thực hiện các phân tích hóa nghiệm trong phòng thí nghiệm để xác định dư lượng hóa chất BVTV tồn lưu trong các tầng đất, nguồn nước mặt, nước ngầm và nông sản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn nghiên cứu trên quy mô toàn huyện Phú Bình; kết hợp phương pháp lấy mẫu hiện trường để phân tích hàm lượng hoạt chất thuốc BVTV tồn dư trong đất, nước và sản phẩm cây trồng bằng các phương pháp sắc ký; tiến hành xét nghiệm y sinh (đo hoạt tính men cholinesterase trong máu của người trực tiếp phun thuốc) nhằm định lượng chính xác mức độ nhiễm độc nghề nghiệp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý môi trường, Nông nghiệp học thực hiện các đề tài khóa luận, tiểu luận về quản lý hóa chất nông nghiệp và đánh giá tác động môi trường nông thôn.
  • Phần nội dung giá trị:
    • Hệ thống câu hỏi điều tra xã hội học về hành vi sử dụng thuốc BVTV, bảo hộ lao động và triệu chứng sức khỏe tại thực địa.
    • Phương pháp tính toán và tổng hợp định lượng lượng thuốc BVTV tiêu thụ trên các loại cây trồng theo từng mùa vụ canh tác (vụ xuân, vụ mùa).
    • Khung tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về quản lý hóa chất và bảo vệ thực vật giai đoạn trước năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ người dân sử dụng đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động khi phun thuốc BVTV tại xã Tân Thành là bao nhiêu?
Chỉ có 16,4% (23/140 người) sử dụng đầy đủ trang phục bảo hộ lao động. Tỷ lệ sử dụng từng loại trang bị gồm: khẩu trang đạt 93,6%, mũ/nón đạt 92,9%, quần áo bảo hộ đạt 64,3%, găng tay đạt 63,6%, và thấp nhất là kính mắt chỉ có 6,4% người sử dụng.

2. Người dân xã Tân Thành xử lý bao bì, vỏ chai thuốc BVTV sau khi sử dụng như thế nào?
Có 41,43% người dân vứt bỏ bao bì ngay tại nơi sử dụng (bờ ruộng, đường đi, lòng ruộng), 26,43% vứt xuống sông, ao, hồ, kênh, mương, 17,86% bỏ vào nơi đổ rác ven đường, 3,57% tự chôn hoặc đốt trong vườn, và chỉ có 10,72% người dân bỏ bao bì vào các bể thu gom đặt ngoài đồng.

3. Cơ cấu và tình trạng cấp phép của các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn xã ra sao?
Toàn xã có 5 cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, trong đó có 1 cơ sở nhà nước (Trạm BVTV xã, chiếm 20%) và 4 cơ sở tư nhân (chiếm 80%). Trong 4 cơ sở tư nhân, có 3 cơ sở đã được cấp phép (75%) và 1 cơ sở chưa được cấp giấy phép hành nghề (chiếm 25% nhóm tư nhân).

4. Những triệu chứng cơ năng và bệnh lý nào xuất hiện với tỷ lệ cao nhất ở người trực tiếp tiếp xúc với thuốc BVTV?
Triệu chứng cơ năng phổ biến nhất là uể oải (86,43%), đau đầu (83,57%), da mẩn ngứa (82,14%), hoa mắt chóng mặt (78,57%) và buồn nôn (70,71%). Nhóm bệnh lý ghi nhận tỷ lệ mắc cao nhất là bệnh về mắt (95,0%) và bệnh về mũi họng (89,29%).

5. Tổng lượng thuốc BVTV sử dụng trong năm 2014 tại xã Tân Thành là bao nhiêu và loại cây trồng nào tiêu thụ nhiều nhất?
Tổng khối lượng thuốc BVTV sử dụng trong năm 2014 ước tính từ 194,72 đến 332,91 kg. Cây lúa là đối tượng tiêu thụ nhiều nhất với khối lượng từ 136,55 đến 243,05 kg, chiếm tỷ trọng từ 70,13% đến 73,0% tổng lượng hóa chất tiêu thụ toàn xã.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Hằng đã phản ánh chi tiết và khách quan thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên qua hệ thống số liệu điều tra thực địa 140 hộ dân và 5 cơ sở kinh doanh. Kết quả nghiên cứu chứng minh tồn tại nhiều bất cập lớn trong công tác quản lý kinh doanh tư nhân, thói quen xả thải bao bì nguy hại bừa bãi (chiếm hơn 67%) và tỷ lệ tuân thủ bảo hộ lao động rất thấp (16,4%), dẫn tới nguy cơ phơi nhiễm sức khỏe nghiêm trọng với các bệnh lý về mắt và mũi họng ở mức trên 89%. Các giải pháp quản lý cấp phép và xây dựng hệ thống thu gom bao bì chuyên dụng do tác giả đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần thiết thực vào công tác bảo vệ môi trường nông thôn và sức khỏe cộng đồng địa phương.