CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai 1. Khái niệm về tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai 1. Khái niệm Khiếu nại đất đai Đại từ điển tiếng Việt đưa ra khái niệm "khiếu nại" là: "thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y”.
Khiếu nại được coi là quyền chủ thể của công dân, được quy định trong các bản Hiến pháp (Điều 29 Hiến pháp năm 1959, Điều 73 Hiến pháp năm 1980, Điều 74 Hiến pháp năm 1992 và Điều 30 Hiến pháp năm 2013). Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Thuật ngữ “mọi người” ở đây bao gồm không chỉ công dân Việt Nam mà bao gồm cả người nước ngoài, người không có quốc tịch sinh sống, lao động, học tập trên lãnh thổ Việt Nam. Theo Luật Khiếu nại năm 2011: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc CB, CC theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại QĐHC, HVHC của CQHC nhà nước, của người có thẩm quyền trong CQHC nhà nước hoặc quyết định kỷ luật CB, CC khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
Như vậy, khiếu nại được coi là quyền cơ bản của công dân, là một trong các hình thức để công dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình, thông qua việc khiếu nại mà công dân phản ánh ý chí, nguyện vọng của mình tới các cơ quan nhà nước để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và đấu tranh chống các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật, góp phần dân chủ, lành mạnh hóa các hoạt động của cơ quan thực thi quyền lực công. 5 Khiếu nại đất đai: Loại khiếu nại phát sinh trong các lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai được gọi là khiếu nại về đất đai. Khi có căn cứ cho rằng các quyết định hoặc các hành vi của họ là không đúng với pháp luật và là không hợp lý, hoặc có thể xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thì các cơ quan, tổ chức, công dân có quyền đề nghị, yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra lại và xem xét lại các quyết định hành chính hoặc các hành vi hành chính trong quá trình quản lý đất đai của các cơ quan có thẩm quyền trên 1. Khái niệm tố cáo về đất đai Theo từ điển tiếng Việt thì “tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó… vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn” ( Hoàng Phê, 2006) Theo quy định tại khoản 1, Điều 2, Luật tố cáo năm 2011 thì “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.
Như vậy, về bản chất, tố cáo thể hiện ý thức bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật của mỗi công dân trước các hành vi vi phạm, qua đó người tố cáo không chỉ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn bảo vệ lợi ích của cộng đồng. Theo các quy định tại khoản 7, điều 166 trong Luật đất đai được ban hành vào năm 2013 thì một trong những quyền lợi chung của người sử dụng đất là có quyền khởi kiện, tố cáo, khiếu nại về những hành vi có liên quan đến việc vi phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác có liêu quan đến pháp luật về đất đai. Từ khái niệm tố cáo có thể cho chúng ta thấy rằng: Việc công dân đó có thể là người sử dụng đất hoặc không sử dụng đất đi trình báo cho các cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng đất được gọi là Tố cáo về đất đai. 6 Đối tượng tố cáo về đất đai là hành vi vi phạm của bất kỳ cơ quan, cá nhân, tổ chức nào gây thiệt hại đến lợi ích và quyền lợi của nhà nước, của các tổ chức, cơ quan hoặc của người khác về đất đai, thì có quyền tố cáo về những hành vi như vậy.
Những hành vi này có thể được phát sinh trong quá trình sử dụng đất, nhưng cũng có thể phát sinh trong quá trình quản lý đất đai của các cơ quan nhà nước. Khái niệm tranh chấp đất đai Tranh chấp về đất đai là một khái niệm đã trở lên rất phổ biến trong đời sống xã hội. Thuật ngữ này không chỉ xuất hiện trong các văn bản pháp luật mà còn xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng thường ngày, trong đời sống nhân dân. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này hiện nay vẫn chưa được hiểu một cách đồng nhất, kể cả trong giới luật học.
Việc xác định nội hàm khái niệm tranh chấp về đất đai có ý nghĩa quan trọng kể cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, đặc biệt là trong việc xác định cơ chế, xác định thẩm quyền và xác định trình tự và thủ tục giải quyết. Theo Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai 2013 thì “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” ( Luật Đất đai, 2013). Như vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là quyền sở hữu đất, các chủ thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất. Đây là điều không phải bàn cãi vì Điều 53, Hiến pháp 2013 hay điều 4, Luật đất đai 2013 quy định rất rõ đất đai thuộc sở hữu của toàn dân và là do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Như vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai là các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Tức là trong quá trình quản lý và sử dụng đất, người sử dụng đất sử dụng các quyền và nghĩa vụ của mình làm phát sinh tranh chấp với người khác. Còn chủ thể của tranh chấp đất đai có thể là giữa các chủ thể sử dụng đất với nhau hoặc giữa người sử dụng đất với bất kỳ bên thứ ba nào khác trong quan hệ đất đai 1. Quyền của công dân về tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai Tranh chấp, Khiếu nại, tố cáo về đất đai là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi tại điều Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có 7 quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.” Trong quan hệ pháp luật đất đai, người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai theo quy định tại Luật Khiếu nại, Luật tố cáo 2018. Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của mình, tham gia giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Trong hoạt động quản lý và sử dụng đất đai tại khoản 1, Điều 204 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.
Giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai được tiến hành theo Luật đất đai và Luật khiếu nại, Luật tố cáo. Chế độ sở hữu nhà nước về đất đai Ở mọi quốc gia, đất đai luôn được coi là nguồn tài nguyên của cải đặc biệt quan trọng. Trong tiến trình phát triển của xã hội của loài người, có nhiều hình thức Nhà nước khác nhau với các chế độ chính trị khác nhau. Mỗi thời kỳ lịch sử, các chế độ sở hữu Nhà nước về đất đai có bản chất khác nhau phụ thuộc vào bản chất của giai cấp thống trị trong mỗi xã hội.
Đối với Việt Nam, một quốc gia đất hẹp người đông thì đất đai, ruộng đất càng là tài sản quí hiếm, có giá trị đặc biệt thiết yếu trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Xuất phát từ đặc điểm lịch sử rất đặc biệt, do vị trí địa kinh tế chính trị tạo ra, lịch sử chế độ đất đai Việt Nam vừa phát triển theo quy luật chung của thế giới, nhưng đồng thời nó mang bản sắc riêng theo bản năng đấu tranh sinh tồn của dân tộc trong những thời kỳ bị xâm lược. Nước ta do đặc thù riêng của chế độ chính trị 8 xã hội chủ nghĩa nên ngay từ khi Nhà nước Việt Nam đầu tiên ra đời cũng đồng thời xuất hiện quyền sở hữu tối cao của Nhà nước đối với đất đai. Ở nước ta, trong quá trình chuyển đổi từ nên kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã và đang đặt ra một yêu cầu khách quan phải xây dựng và hoàn thiện chế độ sở hữu đất đai cho phù hợp với cơ chế mới.