ĐẶT VẤN ĐỀ Nêu lý do chọn dé tài, mục đích và giới hạn dé tài. e Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trình bày một số khái niệm, công thức và phương pháp nghiên cứu. e Chương 3: TỔNG QUAN Giới thiệu sơ lược về huyện Phú Hòa: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - văn hóa-xã hội. e Chương 4: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Thực trạng về tình hình nuôi bò ở huyện, tìm hiểu một số yếu tố kỹ thuật nuôi bò và phân tích kết quả, hiệu quả của việc chăn nuôi bò thịt, từ đó đưa ra một số giải pháp để phát triển đàn bò của huyện trong tương lai.
e Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Tổng kết lại các vấn để đã nghiên cứu và đưa ra một số kiến nghị đối với các cơ quan, ban ngành có liên quan. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Vị trí của chăn nuôi bò trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp Bò là một trong những loại gia súc được nuôi phổ biến ở Phú Yên. Trước đây, khi việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp chưa được áp dụng rộng rãi thì việc chăn nuôi bò chủ yếu là dùng để cung cấp cho cày, kéo, đến khi những con bò nào không còn kha năng tham gia sản xuất nữa thì người chăn nuôi mới loại thai bò, do vậy hau hết các bò thải này là bò già, gầy yếu, chất lượng thịt thấp.
Thịt bò loại này chiếm số lượng khá lớn ở thị trường. Bò là động vật dễ nuôi nên người nông dân bắt đầu chú ý và phát triển mạnh chăn nuôi bò thịt. Đồng thời nông dân đã có cơ sở chuồng trại nuôi bò; cd và các phụ phẩm nông nghiệp ở huyện Phú Hòa rất phong phú, dồi dào. Mặt khác trong những năm gần đây giá thịt bò tăng cao, trong khi đó các vật nuôi khác như heo, gà thường có dịch, giá không cao, lại biến động mạnh.
Thịt bò lại là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa chuộng, hiện tại thịt bò thật sự chưa cung cấp ngang bằng với nhu cầu thị trường, và dự báo trong những năm tới nhu cầu thịt bò tiếp tục tăng cao, giá cả không xuống thấp. Ngoài ra trong chiến lược phát triển kinh tế — xã hội của huyện Phú Hòa đã chọn đối tượng con bò là vật nuôi chủ lực trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi của huyện, mục tiêu là đưa tỷ trọng chăn nuôi ngang bằng với tỷ trọng trông trọt. Lãnh đạo huyện Phú Hòa đã ban hành nhiều chính sách như phổ biến, xây dựng, nhân rộng các mô hình ứng dụng KHCN về nuôi vỗ béo bò thịt, nuôi sinh sản, cải tạo chuồng trại.; cho mượn vốn, vay vốn ưu đãi cho nhiều đối tượng như dân nghèo có điều kiện tổ chức sản xuất, trang trại sản xuất. Với những lý do trên, thì việc đẩy mạnh việc chăn nuôi bò thịt là điều cần thiết, nó vừa cung cấp nhu cầu tiêu thụ thịt bò, vừa nâng cao thu nhập, tạo công ăn việc làm cho các hộ gia đình ở nông thôn.
Như vậy rõ rang chăn nuôi bò chiếm một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp nói chung và trong tương lai sẽ trở thành ngành chăn nuôi. Ý nghĩa của việc phát triển ngành chăn nuôi bò Chăn nuôi bò vốn là tập quán lâu đời của nhân dân trong tỉnh, yêu cầu về điều kiện nuôi bò thịt khá đơn giản, ít tốn kém về đầu tư chuồng trại, trang thiết bi. Thức ăn chủ yếu của bò là cỏ và những phụ phẩm nông nghiệp khác như rơm, thân bắp, dot mía. ở Phú Hòa cũng như Phú Yên rất phong phú và đa dạng.
Chăn nuôi bò tại hộ gia đình cũng như trang trại tận dụng được nguồn lao động phụ, lao động nông nhàn, phù hợp với đặc điểm tự nhiên, sử dụng hiệu quả tài nguyên bãi cỏ ở trên bờ ruộng, dưới tán rừng, rơm rạ của lúa sau mùa thu hoạch va các phụ phế phẩm của ngành trồng trot. Hiện tại, nhu cầu thịt bò cho tiêu dùng trong nước rất lớn, đòi hỏi phải đẩy mạnh phát triển trang trại và nâng cao chất lượng đàn bò nhằm phát huy sức mạnh và tiém năng sẵn có của huyện cũng như của tỉnh, tạo nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội và trong tương lai sẽ xuất khẩu nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh. Chăn nuôi bò sẽ tạo ra bức phá trong chuyển đổi cơ cấu cây trông vật nuôi, tạo ra nhiều san phẩm hàng hóa như: thịt, sữa. Vai trò kinh tế hộ gia đình đối với sự phát triển nên nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam là một nước nông nghiệp lâu đời, lấy nông nghiệp làm gốc.
Mục tiêu phấn đấu của Dang và Nhà nước là làm sao cho: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, ai cũng được ấm no hạnh phúc. Muốn như vậy chúng ta cần nâng cao thu nhập của các kinh tế hộ gia đình. Vì kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh doanh, dựa vào hệ thống sinh thái và gia đình phát triển từng bước đi lên nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống về vật chất va tinh thần ngày càng cao của gia đình và cộng đồng. Ngày nay, với các chính sách đổi mới va sự phát triển của nên kinh tế tao điều kiện nên kinh tế hộ gia đình phát triển, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước đã góp phần nâng cao bộ mặt kinh tế — xã hội ở nước ta: giải quyết vấn dé an toàn 2, lương thực, tạo công ăn việc làm cho người dân ở nông thôn.
Nền kinh tế hộ gia đình muốn phát triển lên quy mô lớn hơn thì trong giai đoạn này người nông dân đóng vai trò quan trong là cơ sở và là tiền dé để sau một thời gian lâu dài đúc kết kinh nghiệm, những kiến thức cơ bản, vốn san xuất và tiếp cận thị trường. để từ đó họ có cơ hội tốt để phát triển lên quy mô lớn hơn tùy vào khả năng và điều kiện hoạt động kinh doanh của mỗi người. Kinh tế hộ gia đình phát triển, người dân được ấm no hạnh phúc thì vùng nông thôn đó cũng sẽ thay đổi, hòa mình vào nhịp sống của thành thị, nâng cao đời sống vùng nông thôn lên và làm thúc đẩy phát triển các ngành liên quan khác. Ngoài ra, nông thôn còn là nơi cung cấp nguồn lao động dồi dào cho công nghiệp, dịch vụ ở thành thị.
Giữa nông thôn và thành thị có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu như nông thôn là nơi cung cấp lao động cho các xí nghiệp, nha máy. Với sự phát triển đó, nghiên cứu dự án phát triển chăn nuôi bò thịt năng suất cao tại huyện Phú Hòa sẽ góp phần giải quyết nhu cầu cho người dân và cung cấp thịt cho nhu cầu thị trường. Từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân ở huyện cùng với việc khai thác nguồn tài nguyên có sẵn, phát huy hết tiềm năng của huyện trong việc chăn nuôi bò thịt. Việc giải quyết tốt công ăn việc làm cho người nông dân tại địa bàn huyện cũng giúp làm giảm bớt áp lực cho thành thị trong quá trình đô thị hóa.
Thực hiện chính sách ly nông chứ không ly hương. Lý thuyết về hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò Lý thuyết cho rằng, hiệu quả là mối quan hệ tỷ lệ giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào của một quá trình và cũng là hiệu quả của quá trình đó. Hiệu quả san xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phan ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động và là nguồn lực duy nhất để có thể tái sản xuất, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận được hiểu là khoảng chênh lệch giữa doanh thu thực hiện và chi phí bỏ ra trong một thời gian nhất định mà đã loại trừ những nhân tố ảnh hưởng. Lợi nhuận càng cao thì càng thể hiện rõ hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh và ngược lại. Hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò thịt là nâng cao khối lượng và chất lượng thịt bò trong thời gian sản xuất nhưng giảm chi phí dau tư, do đó người san xuất có lãi. Có nhiều yếu tố gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò như chi phí giống, chi phí thức ăn, chi phí thú y, khấu hao cơ sở vật chất, chi phí lao động.
Do đó chúng ta cần tìm hiểu và nghiên cứu từng yếu tố này để tác động làm giảm chi phí của từng yếu tố đó. Chi phí giống: đây là một yếu tố quan trọng nhất liên quan đến chi phí dau tư ban dau và không thể thiếu trong chăn nuôi bò. Dau tư cho giống là chi phí đầu tư lớn nhất và cần phải có đủ. Tuy nhiên yếu tố này chúng ta khó có thể thây đổi được, do giá cả giống tùy thuộc vào thị trường con giống, chất lượng con giống, tuổi con giống.
con giống càng tốt thi giá lại càng cao. Chi phí thức ăn: đây cũng là yếu tố quan trọng liên quan đến chi phí đầu tư trong suốt quá trình chăn nuôi, do đó làm giảm chi phí thức ăn mà vẫn duy trì sự phát triển của bò sẽ giúp người chăn nuôi tăng hiệu quả kinh tế. Chi phí thức ăn là giá trị của tổng số thức ăn được đưa đến chuông nuôi cho gia súc sử dụng. Để giảm chi phí thức ăn cần: — Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, những loại thức ăn có giá tiền thấp nhưng có giá trị dinh dưỡng như cám gạo, bột ngô, sắn, thân bắp, đọt mía.
— Tăng cường chế biến thức ăn để nâng cao giá trị sử dụng, giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hóa. — Tăng lượng ăn vào, hạn chế lãng phí thức ăn đến mức thấp nhất. — Phối hợp khẩu phan hợp ly va giá tiền thấp. Trong nông hộ hoặc trang trại cần tận dụng những sản phẩm tự san xuất ra sẽ làm giảm chi phí thức ăn vì là hoạch toán nội bộ.
Chi phí thú y: là toàn bộ tiền chi phí cho tiêm phòng và chữa bệnh. Đây là yếu tố làm tăng chi phí chữa bệnh va làm trì hoãn sự phát triển của bò.