Chương 1. Tổng quan; Chương 2. Đánh giá thực trạng công tác BVMT tại một số KCN đang hoạt động trên địa bàn TP. Hà Nội; Chương 3.
Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội 1. Những đặc điểm tự nhiên thành phố Hà Nội Vị trí địa lý thành phố Hà Nội: Thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên 3. Thành phố Hà Nội thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có địa giới hành chính: Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc; Phía Nam tiếp giáp với tỉnh Hà Nam và Hoà Bình; Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên;Phía Tây tiếp giáp với tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ.
Hà Nội nằm ở hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, có vị trí thuận lợi để phát triển thành một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá và xã hội của cả nước. Điều kiện về khí tượng, thủy văn thành phố Hà Nội: * Điều kiện khí tượng: Khí hậu Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa: Mùa Hè nóng, mưa nhiều và mùa Đông lạnh, mưa ít. Sự phân chia khí hậu nhiệt đới gió mùa theo bốn mùa, gồm hai mùa chính là mùa Hè và mùa Đông, hai mùa chuyển tiếp: mùa Xuân, mùa Thu. Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình phát tán và chuyển hoá các chất ô nhiễm, đặc biệt là các yếu tố nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối của không khí, lượng mưa, tốc độ và hướng gió, nắng và bức xạ mặt trời.
Theo tài liệu quan trắc tại Trạm khí tượng Láng, đặc trưng khí hậu TP. Hà Nội như sau: Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình hàng tháng và hàng năm ở thành phố Hà Nội dao động từ 23,7oC - 24,7oC, nhìn chung sự tăng giảm không theo quy luật. Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình tháng của thành phố Hà Nội tương đối cao, dao động từ 65% - 88%. Độ ẩm trung bình tháng cao nhất là các tháng 2, 3, 9 và 10.
Độ ẩm trung bình cực tiểu trong ngày có thể xuống đến 31%. thấp nhất là các tháng 11, 12 và tháng 1. Lượng mưa: Theo số liệu thống kê thì lượng mưa trung bình hàng năm của thành phố Hà Nội khoảng 1.750 mm, dao động từ 1. 4 Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình hàng năm khoảng 924 mm, dao động từ 832 mm - 974 mm/năm.
Trung bình mỗi ngày bốc hơi khoảng 2,3 mm - 2,7 mm. Chế độ gió: Khu vực TP. Hà Nội có tốc độ gió trung bình khoảng 1,1m/s - 1,7 m/s, tốc độ gió cao nhất có thể đạt tới 19 m/s. Hướng gió chủ yếu là Đông, Đông Bắc và Đông Nam.
Số giờ nắng và bức xạ mặt trời: Chế độ nắng liên quan trực tiếp tới chế độ bức xạ và tình trạng mây che phủ. Tổng số giờ nắng đo được tại Trạm Khí tượng Láng dao động từ 1. Tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 2 và 3 dao động trong khoảng 21,9 - 37,2 giờ (trung bình là 24,7 giờ), đây là thời gian có tổng bức xạ thấp nhất trong năm. Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 5, 6, 7 dao động trong khoảng 143,8 giờ - 217,8 giờ (trung bình là 182 giờ).
* Các điều kiện thời tiết bất thường Các hiện tượng thời tiết khác thường gồm có mưa rào, mưa đá, sương mù, sương muối, dông, tố (bão). Nhìn chung, TP. Hà Nội chủ yếu có các hiện tượng thời tiết khác thường là mưa rào. * Điều kiện thủy văn Sông Hồng là con sông chính của Thành phố, bắt đầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba Vì và ra khỏi Thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp tỉnh Hưng Yên.
Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất nước Việt Nam. Hà Nội còn có Sông Đà là ranh giới giữa TP. Hà Nội với tỉnh Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc Thành phố tại huyện Ba Vì. Sông Hồng có lưu lượng nước bình quân hàng nǎm rất lớn, tới 2.640 m³/giây (tại cửa sông) với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 tỷ m³, tuy nhiên lưu lượng nước phân bổ không đều.
Về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700 m³/giây, nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30. Ngoài ra, trên địa phận TP. Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cà Lồ,… Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành Hà Nội như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu,. là những đường tiêu thoát nước thải của Hà Nội.
5 Sông Đuống: Là phần lưu của sông Hồng dài 65km, nối liền hai con sông lớn của miền Bắc là sông Hồng và sông Thái Bình. Sông Đuống tách sông Hồng ra xã Ngọc Thuỵ (huyện Gia Lâm) chảy về phía Đông rồi Đông Nam qua các huyện Thuận Thành, huyện Gia Lương (tỉnh Bắc Ninh) đổ vào sông Thái Bình ở Đại Than, gần Phả Lại. Đoạn chảy qua thành phố Hà Nội dài 17,5 km. Sông Tô Lịch: Là phần lưu của sông Hồng, tách từ “cửa cống thôn Hương Bài” tức nay là chỗ trường Trần Nhật Duật, theo hướng Đông - Tây đến chợ Bưởi quay lại theo hướng Bắc Nam vòng vo tới xã Hà Liễu (huyện Thường Tín) thì nhập vào sông Nhuệ.
Năm 1889, thực dân Pháp đã lấp nhánh sông Tô từ cửa Hương Bài (Hà Khẩu) đến Thuỵ Khuê. Từ khi bị lấp, sông chỉ còn là dòng thoát nước thải của Thành phố và ngày càng bị ô nhiễm nặng. Sông Nhuệ: Còn gọi là sông Từ Liêm, sông Thanh Oai. Dòng sông chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam qua đất huyện Thanh Trì, huyện Thường Tín rồi nhập vào sông Đáy ở thị xã Phủ Lý.
Đoạn chảy trên đất Hà Nội gần 40 km. Sông Kim Ngưu: Vốn là một nhánh của sông Tô Lịch từ phường Yên Lãng chảy theo hướng đường La Thành qua cống Nam Đồng, Phương Liệt (quận Đống Đa) tới xã Thịnh Liệt thông với sông Sét, rồi chảy vào huyện Thường Tín nhập vào sông Nhuệ. Ngoài dòng chính đó còn có nhiều nhánh khác chảy trong quận Hai Bà Trưng và huyện Thanh Trì song tác dụng chủ yếu ngày nay là đường thoát nước thải của nội thành. Sông Cà Lồ: Trước kia là một nhánh của sông Hồng, tách ra từ xã Trung Hà, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phú.
Năm 1920, Pháp xây một đập chắn ở chỗ hợp lưu sông Hồng với sông Cà Lồ (thuộc xã Vạn Yên, huyện Mê Linh). Phù sa lấp đoạn ngoài đập nên hiện nay ngọn sông Cà Lồ cách sông Hồng tới 3km. Ngoài ra Sóc Sơn còn có nhiều sông nhỏ như sông Thanh Hoa, Bầu, Đông Lanh, Chéo Meo, hay ở Đông Anh có sông Thiếp, ở Gia Lâm có sông Cầu Bây. Do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ từ năm 1990 đến nay, phần lớn các sông hồ Hà Nội đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng.
Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thải chính của Thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận khoảng 150. 6 Tương tự, sông Kim Ngưu nhận khoảng 125.000 m³ nước thải sinh hoạt mỗi ngày. Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày cũng đổ vào sông Kim Ngưu khoảng 110. Các sông mương nội và ngoại thành, ngoài vai trò tiêu thoát nước còn phải nhận thêm một phần rác thải của người dân và chất thải công nghiệp.
Những làng nghề thủ công cũng góp phần vào gây nên tình trạng ô nhiễm này. Đặc điểm kinh tế, xã hội Đặc điểm xã hội thành phố Hà Nội năm 2013 Dân số toàn TP. Hà Nội ước năm 2013 là 7146,2 nghìn người, tăng 2,7% so với năm 2012, trong đó dân số thành thị là 3089,2 nghìn người chiếm 43,2% tổng số dân và tăng 4,4%; dân số nông thôn là 4057 nghìn người tăng 1,4%. Hà Nội gồm 12 quận: Hoàn Kiếm, Ba Ðình, Ðống Ða, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai, Hà Đông, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm và 18 huyện, thị xã: Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Gia Lâm, Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Mê Linh và thị xã Sơn Tây [1].
Đặc điểm kinh tế thành phố Hà Nội năm 2013 Tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu phục hồi, các ngành, lĩnh vực kinh tế đều duy trì tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước Tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 8,25% - đạt kế hoạch đề ra là từ 8,0-8,5% và cao hơn năm trước (năm 2012 là 8,06%) và bằng 1,53 lần mức tăng chung của cả nước; trong đó, dịch vụ tăng 9,42%, công nghiệp - xây dựng tăng 7,56% và nông nghiệp tăng 2,46%. Sản xuất công nghiệp duy trì tăng trưởng khá. Tăng trưởng công nghiệp ước đạt 7,49% (năm 2012 là 8,06%); chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 4,4%-4,6% (năm 2012 là 5,1%). Các hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng xã hội vẫn tăng trưởng, tuy nhiên, mức độ sôi động kém hơn năm 2012.
Tổng mức bán ra tăng 13,8% (năm 2012 tăng 18,8%). Kim ngạch xuất khẩu tăng 0,2% (năm 2012 tăng 5,3%, kế hoạch năm 2013 tăng 9%-10%). Kim ngạch nhập khẩu giảm 3,7%. 7 Hoạt động du lịch duy trì sự phát triển, khách du lịch đến Hà Nội vẫn ổn định.
Tổng lượng khách lưu trú trên địa bàn tăng 12%, trong đó, khách quốc tế tăng 15,2% so với năm 2012. Hà Nội được bình chọn là điểm đến hấp dẫn thứ 5 trong top 10 điểm đến hấp dẫn hàng đầu châu Á năm 2013. Sản lượng và năng suất của hầu hết các loại cây trồng đạt cao. Diện tích sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao chiếm tỷ lệ cao trên tổng diện tích gieo trồng (25%).
Sản xuất rau an toàn được đẩy mạnh [1]. Tập trung phát triển hạ tầng đô thị, đảm bảo trật tự đô thị, BVMT Công tác quy hoạch được triển khai tích cực: đã hoàn thành phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các huyện, thẩm định và phê duyệt 37/38 quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực. Dự kiến hoàn thành phê duyệt 30/32 đồ án quy hoạch chung xây dựng huyện, thị trấn huyện lỵ, thị trấn sinh thái, đô thị vệ tinh và 18/38 đồ án quy hoạch phân khu. Cấp, thoát nước đô thị và các dự án cải tạo môi trường được chú trọng.
Mạng lưới cấp nước đô thị tới các hộ dân tại các khu vực quận Hoàng Mai, Hà Đông và huyện Thanh Trì được đầu tư. Xây dựng trạm xử lý nước thải hồ Bảy Mẫu; chuẩn bị đưa nhà máy xử lý nước thải Yên Sở vào hoạt động. Đã cơ bản hoàn thành cải tạo hạ tầng xung quanh hồ Ba Mẫu.