Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Long An đã quy hoạch và phát triển 28 khu công nghiệp cùng 32 cụm công nghiệp với tổng diện tích đất thu hồi lên đến trên 13.000 ha, thu hút gần 100.000 lao động vào làm việc tại các doanh nghiệp. Riêng tại huyện Đức Hòa – địa bàn cửa ngõ kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch vượt bậc với 10 khu công nghiệp có tổng diện tích 3.312 ha và 13 cụm công nghiệp chiếm 503 ha. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp - xây dựng tại huyện tăng vọt từ 35,3% năm 2000 lên 64,4% năm 2013, đưa thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành từ 2,7 triệu đồng lên 39,5 triệu đồng.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi quy mô lớn từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp đã tác động trực tiếp và làm thay đổi sâu sắc cấu trúc sinh kế của hàng nghìn hộ nông dân. Nhiều hộ gia đình sau khi nhận tiền bồi thường gặp khó khăn trong việc định hướng nghề nghiệp, chi tiêu thiếu kiểm soát dẫn đến suy giảm nguồn thu nhập và đối mặt với nguy cơ bất ổn sinh kế lâu dài.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Võ Thái Thông, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Tấn Khuyên, tập trung làm rõ bức tranh biến động thu nhập và lượng hóa các yếu tố tác động đến khả năng cải thiện thu nhập của người dân bị thu hồi đất tại dự án Khu công nghiệp Đức Hòa III (quy mô 1.857,66 ha trải dài trên địa bàn hai xã Đức Lập Hạ và Mỹ Hạnh Bắc). Nghiên cứu cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm và cơ sở khoa học định lượng với độ tin cậy 95%, giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách an sinh, hướng nghiệp và đảm bảo phục hồi thu nhập bền vững cho 100% hộ dân chịu ảnh hưởng giải tỏa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2003) làm nền tảng cốt lõi. Khung lý thuyết này tiếp cận sinh kế hộ gia đình dựa trên sự tương tác của 05 nguồn vốn tài sản căn bản:

  • Nguồn vốn con người: Bao gồm trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất và sức khỏe lao động của các thành viên trong gia đình.
  • Nguồn vốn tự nhiên: Trọng tâm là diện tích đất đai canh tác nông nghiệp – tư liệu sản xuất chủ yếu trước khi bị thu hồi.
  • Nguồn vốn tài chính: Dòng tiền mặt từ tiền bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, thu nhập tích lũy và khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
  • Nguồn vốn vật chất: Điều kiện nhà ở, phương tiện sản xuất, máy móc kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại nơi ở mới.
  • Nguồn vốn xã hội: Mạng lưới quan hệ họ hàng, cộng đồng làng xã và sự liên kết với các tổ chức đoàn thể địa phương.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết phục hồi sinh kế của Ngân hàng Thế giới (WB, 2004) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995; ADB, 2001). Quan điểm này khẳng định việc thu hồi đất phải đi kèm với chính sách can thiệp để người dân phục hồi mức sống tối thiểu bằng hoặc cao hơn thời điểm trước khi bị thu hồi đất. Đề tài kế thừa có chọn lọc các mô hình phân tích chuyển dịch sinh kế nông thôn của Hanstad (2004), Đoàn Thị Cẩm Vân (2010), Đinh Phi Hổ và Huỳnh Xuân Vũ (2011), và Huỳnh Chí Thành (2014) nhằm thiết lập hệ thống 8 biến độc lập giải thích cho biến phụ thuộc là khả năng cải thiện thu nhập của nông hộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:

  • Dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ các báo cáo quy hoạch kinh tế - xã hội giai đoạn 2000-2015 của UBND tỉnh Long An, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh và UBND huyện Đức Hòa.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra trực tiếp bằng bảng câu hỏi phỏng vấn cấu trúc đối với cỡ mẫu gồm 150 hộ gia đình có đất canh tác bị thu hồi phục vụ dự án Khu công nghiệp Đức Hòa III.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại hai địa bàn bị ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất gồm ấp Tân Hòa (xã Đức Lập Hạ) và ấp Rừng Sến (xã Mỹ Hạnh Bắc), dựa trên danh sách giải tỏa chính thức do Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Đức Hòa cung cấp.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Đề tài sử dụng phần mềm SPSS để thực hiện thống kê mô tả, kiểm định Chi-square ($\chi^2$), kiểm định Levene, Independent Samples T-test và mô hình hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logit).

Lý do lựa chọn mô hình Binary Logit: Biến phụ thuộc "Khả năng cải thiện thu nhập" là một biến định tính nhị phân ($Y = 1$ khi thu nhập của hộ gia đình tăng lên hoặc giữ nguyên; $Y = 0$ khi thu nhập bị suy giảm so với trước khi thu hồi đất). Mô hình Binary Logit là công cụ tối ưu để khắc phục nhược điểm của mô hình xác suất tuyến tính, loại bỏ hiện tượng phương sai thay đổi và cho phép xác định chính xác mức độ tác động biên cùng tỷ số chênh Odds Ratio của các nhân tố vi mô.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê và ước lượng kinh tế lượng từ 150 hộ khảo sát chỉ ra các phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, xu hướng biến động thu nhập có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm hộ. Có 102 hộ (chiếm 68,0%) ghi nhận thu nhập tăng lên sau khi chuyển đổi mô hình sinh kế; 29 hộ (chiếm 19,3%) duy trì mức thu nhập không đổi; và 19 hộ (chiếm 12,7%) rơi vào tình trạng sụt giảm thu nhập thực tế so với thời điểm trước khi thu hồi đất. Tổng cộng nhóm hộ không tăng thu nhập chiếm 32,0% (48 hộ).

Thứ hai, việc sử dụng tiền bồi thường để đầu tư sản xuất kinh doanh là biến số có tác động mạnh nhất đến việc cải thiện thu nhập ($B = 2,235; \text{Sig.} = 0,000; \text{Exp}(B) = 9,347$). Tỷ số chênh chỉ ra rằng những hộ chủ động trích tiền bồi thường để tái đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại hoặc dịch vụ có cơ hội nâng cao thu nhập cao gấp 9,35 lần so với nhóm hộ không đầu tư. Trên thực tế, có tới 60,7% (91 hộ) không sử dụng tiền đền bù cho sản xuất kinh doanh mà dành cho tiêu dùng hoặc xây nhà; đặc biệt trong nhóm 48 hộ có thu nhập không tăng, có tới 89,6% (43 hộ) không thực hiện bất kỳ hoạt động đầu tư tạo dòng tiền nào.

Thứ ba, trình độ học vấn của chủ hộ tạo lực đẩy tích cực cho thu nhập ($B = 0,302; \text{Sig.} = 0,002; \text{Exp}(B) = 1,353$). Khi số năm đi học của chủ hộ tăng thêm 1 năm (mức trung bình của mẫu là 6,51 năm, dao động từ 1 đến 16 năm), xác suất hộ gia đình gia tăng thu nhập tăng lên 1,35 lần. Ngược lại, tỷ lệ phụ thuộc trong gia đình tác động tiêu cực rất mạnh ($B = -6,667; \text{Sig.} = 0,004; \text{Exp}(B) = 0,001$), với tỷ lệ phụ thuộc bình quân là 39,38% (cao nhất lên đến 75,00%), tạo áp lực tài chính nặng nề lên các lao động chính.

Thứ tư, kết quả đánh giá phân hạng khả năng cải thiện thu nhập theo thang chuẩn của Standard & Poor’s cho thấy: 49,3% (74 hộ) đạt mức cải thiện tốt, 22,0% (33 hộ) đạt mức trên trung bình, 18,7% (28 hộ) ở mức thấp và 10,0% (15 hộ) ở mức kém.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát thực nghiệm được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp cấu trúc phân bổ nguồn thu, phản ánh tương quan giữa các nhóm sinh kế có và không có lao động làm việc trong khu công nghiệp. Đồng thời, ma trận tương quan Pearson khẳng định mô hình không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng (hệ số tương quan cao nhất giữa biến lao động và tỷ lệ phụ thuộc chỉ dừng ở mức 0,65).

Về mặt bản chất kinh tế, việc mất đi quỹ đất nông nghiệp trung bình 22.519,59 m2/hộ (tối thiểu 1.000 m2 và tối đa 98.630 m2) đã triệt tiêu hoàn toàn nguồn vốn tự nhiên truyền thống. Tiền đền bù chỉ mang tính thời điểm; nếu không được chuyển hóa thành vốn vật chất và vốn tài chính kinh doanh, dòng tiền của hộ nông dân sẽ nhanh chóng cạn kiệt trước chi phí sinh hoạt gia tăng tại vùng đô thị hóa. Chủ hộ có trình độ học vấn cao thể hiện năng lực quản trị tài chính vượt trội, khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường ven khu công nghiệp (như kinh doanh phòng trọ, dịch vụ ăn uống, vận tải nhỏ) tốt hơn hẳn nhóm có học vấn thấp.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các kết luận của Đinh Phi Hổ và Huỳnh Xuân Vũ (2011) tại khu công nghiệp Tân Phú Trung (Thành phố Hồ Chí Minh) và Huỳnh Chí Thành (2014) tại các khu công nghiệp Giao Long và An Hiệp (Bến Tre). Đáng chú ý, các biến như diện tích đất bị thu hồi ($p = 0,620$), giới tính chủ hộ ($p = 0,453$) và việc có lao động làm việc trong khu công nghiệp ($p = 0,149$) không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Điều này phản ánh thực tế rằng đa số lao động địa phương làm việc trong khu công nghiệp là lao động phổ thông ngành may mặc, giày da với mức lương cố định, chưa đủ để tạo nên sự bứt phá vượt bậc về tổng thu nhập cho toàn hộ gia đình nếu thiếu vắng hoạt động đầu tư kinh doanh độc lập.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân vùng chuyển đổi đất:

  • Thành lập Tổ tư vấn quản lý tài chính và định hướng đầu tư cấp cơ sở: UBND huyện Đức Hòa chủ trì, phối hợp cùng Trung tâm Phát triển quỹ đất và các tổ chức tín dụng triển khai chương trình tư vấn quản lý vốn đền bù bắt buộc ngay từ quý I/2017. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ gia đình trích tối thiểu 30% tiền bồi thường vào hoạt động sản xuất kinh doanh từ 39,3% lên mức 65,0% trong vòng 24 tháng, tập trung vào các mô hình thương mại dịch vụ vệ tinh quanh khu công nghiệp Đức Hòa III.

  • Tái cấu trúc chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu tuyển dụng thực tế: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Long An liên kết trực tiếp với Ban Quản lý Khu kinh tế và các doanh nghiệp thứ cấp tại 10 khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa để đào tạo nghề theo đơn đặt hàng. Đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật đạt trên 70,0% trong giai đoạn 2017 - 2020, mở rộng các ngành nghề giá trị cao như vận hành máy cơ khí, kỹ thuật điện và quản lý kho vận thay vì chỉ dừng lại ở gia công may mặc giản đơn.

  • Ban hành gói an sinh và tín dụng ưu đãi vi mô cho nhóm lao động trung niên: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đức Hòa cùng UBND các xã Đức Lập Hạ, Mỹ Hạnh Bắc thiết lập gói vay ưu đãi chuyển đổi sinh kế cho nhóm chủ hộ từ 40 đến 67 tuổi và lao động nữ không đủ điều kiện vào làm việc tại nhà máy. Mục tiêu giảm tỷ lệ hộ suy giảm thu nhập từ 12,7% xuống dưới 5,0% trước năm 2019 thông qua các mô hình kinh tế hộ gia đình, dịch vụ hậu cần và chăn nuôi công nghệ cao.

  • Hoàn thiện đồng bộ 100% hạ tầng kỹ thuật và xã hội tại các khu tái định cư: Ban Quản lý dự án Đầu tư Xây dựng huyện Đức Hòa đôn đốc hoàn tất hạ tầng điện, hệ thống cấp nước sạch tập trung và trường trạm y tế tại 34 dự án tái định cư trong thời hạn 18 tháng. Giải pháp này nhằm chấm dứt tình trạng tái định cư tự do (hiện chiếm 74,68% số hộ giải tỏa), ngăn chặn nguy cơ người dân phải di dời chỗ ở từ 2 đến 3 lần gây lãng phí nguồn lực tích lũy.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo chuyên sâu với giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách công: Cán bộ tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, UBND các cấp có cơ sở khoa học định lượng để xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề và tái định cư theo đúng tinh thần Luật Đất đai, hạn chế xung đột lợi ích xã hội khi giải phóng mặt bằng.

  • Ban quản lý các khu kinh tế và chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp: Các nhà phát triển hạ tầng tại Long An và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có thể sử dụng các chỉ số sinh kế để thiết kế chương trình trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR), phối hợp cùng địa phương xây dựng chuỗi cung ứng dịch vụ địa phương và tuyển dụng hiệu quả.

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Học viên các chuyên ngành Quản lý công, Kinh tế phát triển, Chính sách công và Xã hội học tìm thấy trong luận văn một hình mẫu nghiên cứu kết hợp chuẩn mực giữa Khung sinh kế bền vững (DFID) và kỹ thuật phân tích mô hình hồi quy Binary Logit trên SPSS.

  • Các tổ chức quốc tế và định chế tài chính phát triển: Các chuyên gia đánh giá tác động xã hội tại Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thêm tài liệu nghiên cứu thực chứng về quá trình chuyển dịch kinh tế nông thôn sang công nghiệp tại các vùng ven đô đang đô thị hóa nhanh của Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình hồi quy Binary Logit trong luận văn được xây dựng nhằm mục đích gì? Nghiên cứu sử dụng mô hình Binary Logit để ước lượng xác suất hộ gia đình có khả năng cải thiện thu nhập ($Y = 1$) hoặc bị suy giảm thu nhập ($Y = 0$) sau khi giao đất nông nghiệp. Dựa trên 150 quan sát thực tế và 8 biến giải thích, mô hình lượng hóa chính xác tỷ số chênh Odds Ratio, vượt qua các kiểm định độ phù hợp Omnibus và Hosmer-Lemeshow với độ tin cậy trên 95%.

Nhân tố nào có tác động quyết định lớn nhất đến khả năng tăng thu nhập của người dân? Hành vi sử dụng tiền bồi thường vào hoạt động sản xuất kinh doanh là nhân tố quan trọng nhất ($B = 2,235; \text{Sig.} = 0,000$). Các hộ tái đầu tư tiền đền bù có cơ hội gia tăng thu nhập cao gấp 9,35 lần so với hộ không đầu tư. Thực tế cho thấy 89,6% số hộ có thu nhập bị giảm sút đều không đưa tiền bồi thường vào sản xuất kinh doanh.

Trình độ học vấn của chủ hộ tác động như thế nào đến sự ổn định sinh kế? Trình độ học vấn tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê cao ($B = 0,302; \text{Sig.} = 0,002$). Mỗi năm đi học tăng thêm của chủ hộ giúp xác suất cải thiện thu nhập của hộ tăng 1,35 lần. Học vấn cao giúp người dân quản lý nguồn vốn đền bù hiệu quả, nhanh nhạy chuyển đổi sang các ngành nghề thương mại và dịch vụ có thu nhập cao.

Vì sao có người làm việc trong khu công nghiệp nhưng thu nhập hộ không tăng đột biến? Biến số lao động làm việc trong khu công nghiệp không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% ($p = 0,149$). Phần lớn lao động địa phương (chiếm 48,7% số hộ) làm các công việc phổ thông trong ngành dệt may, da giày với mức thu nhập cố định, chỉ đủ trang trải sinh hoạt hằng ngày chứ chưa tạo ra tích lũy vượt trội nếu hộ có tỷ lệ phụ thuộc lớn.

Tỷ lệ phụ thuộc cao gây ra những rủi ro kinh tế cụ thể nào cho hộ gia đình? Tỷ lệ phụ thuộc là rào cản tiêu cực mạnh nhất đến thu nhập ($B = -6,667; \text{Sig.} = 0,004$). Với tỷ lệ phụ thuộc bình quân lên đến 39,38%, số lượng người già, trẻ nhỏ và người không có thu nhập trong gia đình cao sẽ nhanh chóng làm tiêu tán khoản tiền đền bù vào chi phí sinh hoạt tiêu dùng, đẩy hộ gia đình vào nguy cơ tái nghèo.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện bức tranh chuyển dịch kinh tế huyện Đức Hòa với giá trị sản xuất tăng nhanh và thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2,7 triệu đồng (2000) lên 39,5 triệu đồng (2013).
  • Xác định tỷ lệ 68,0% hộ gia đình cải thiện được thu nhập sau khi thu hồi đất tại Khu công nghiệp Đức Hòa III, đồng thời nhận diện 32,0% hộ gặp khó khăn hoặc thu nhập suy giảm.
  • Chứng minh bằng mô hình định lượng rằng việc đầu tư sản xuất kinh doanh ($\text{Exp}(B) = 9,347$) và nâng cao học vấn ($\text{Exp}(B) = 1,353$) là hai chìa khóa cốt lõi để nâng cao thu nhập.
  • Làm rõ rào cản nghiêm trọng từ tỷ lệ người phụ thuộc ($B = -6,667$) và sự thiếu hụt kỹ năng chuyển đổi nghề nghiệp của nhóm lao động trung niên trên 40 tuổi.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp 4 trụ cột gồm tư vấn quản lý tài chính, đào tạo nghề theo chuỗi giá trị, an sinh vi mô và hoàn thiện hạ tầng tái định cư trong lộ trình 2017 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lấp đầy khoảng trống dữ liệu thực nghiệm về an sinh xã hội sau thu hồi đất tại tỉnh Long An, cung cấp khung phân tích chuẩn mực cho các nhà quản lý công. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lý hãy khai thác toàn văn công trình để ứng dụng hiệu quả vào công tác hoạch định chính sách đất đai và phát triển sinh kế bền vững.