Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam không chỉ diễn ra tại các đô thị lớn mà đang mở rộng nhanh chóng về các khu vực nông thôn, miền núi. Song song với sự cải thiện mức sống và thay đổi tập quán tiêu dùng của người dân là sự gia tăng đột biến về khối lượng cũng như tính chất phức tạp của chất thải rắn sinh hoạt.
Huyện Yên Lập là một huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Phú Thọ, có điều kiện địa hình phức tạp, giao thông cách trở và kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Với quy mô dân số 94.785 người phân bố trên địa bàn 16 xã và 1 thị trấn, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn ngày càng đa dạng về chủng loại, xuất hiện nhiều thành phần khó phân hủy. Trong khi đó, hạ tầng kỹ thuật, phương tiện thu gom, vận chuyển và công nghệ xử lý chất thải của huyện còn nhiều thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế; tình trạng xả rác bừa bãi tại các khu vực công cộng và nông thôn vẫn diễn ra phổ biến. Từ thực tiễn này, tác giả Trần Thị Thùy Dung đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Môi trường với đề tài "Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ".
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Đánh giá hiện trạng thành phần, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện Yên Lập.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Lập.
- Đánh giá nhận thức của cộng đồng dân cư về công tác quản lý và bảo vệ môi trường liên quan đến rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải sinh hoạt phát sinh từ khu dân cư, chợ, cụm công nghiệp và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện Yên Lập.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa giới hành chính huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ (gồm 16 xã và 01 thị trấn).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thu thập số liệu và khảo sát thực địa từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu chuyên ngành về quản lý môi trường:
- Khung khái niệm và pháp lý: Áp dụng các định nghĩa về chất thải, chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt, hoạt động thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn theo Điều 3, Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; kế thừa các khái niệm về chất thải và ô nhiễm môi trường từ công trình của Nguyễn Xuân Nguyên và cộng sự (2004), Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự (2001).
- Cơ sở khoa học về tác động môi trường: Phân tích cơ chế ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm, không khí (phát thải khí CH4, CO2, NH3, H2S) và ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng từ các hợp chất hữu cơ bền, vi sinh vật gây bệnh theo tài liệu của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (2004) và Hoàng Đức Liên - Tống Ngọc Tuấn (2003).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học:
- Phương pháp kế thừa và thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, báo cáo xây dựng nông thôn mới, các quyết định và số liệu thống kê quản lý chất thải rắn từ Ủy ban nhân dân huyện Yên Lập và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn xã hội học: Thực hiện phát phiếu điều tra ngẫu nhiên tới 100 hộ gia đình (thu về 100 phiếu hợp lệ) trên địa bàn 16 xã và 1 thị trấn để khảo sát nhận thức, hành vi phân loại và mức độ chi trả dịch vụ thu gom rác.
- Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác thải:
- Rác thải hộ gia đình: Phân chia địa bàn nghiên cứu thành 3 vùng đại diện: Vùng 1 (thị trấn Yên Lập - 15 phiếu khảo sát); Vùng 2 (15 xã ven thị trấn - 5 phiếu/xã); Vùng 3 (xã vùng cao Trung Sơn - 10 phiếu). Lựa chọn 35 hộ gia đình đại diện tại 3 vùng, phát túi nilon màu xanh (chứa rác hữu cơ) và túi nilon màu đỏ (chứa rác vô cơ), tiến hành cân rác định kỳ vào buổi chiều liên tục trong 10 ngày để xác định hệ số phát thải (kg/người/ngày).
- Rác thải khu chợ: Khảo sát toàn bộ 15 chợ trên địa bàn. Riêng chợ thị trấn Yên Lập tiến hành cân rác 5 lần vào cuối các ngày họp phiên; lấy mẫu đại diện 20 kg rác tại điểm tập kết để phân loại cơ học và cân từng thành phần.
- Rác thải cơ quan, trường học, trạm y tế: Cân đo trực tiếp tại UBND các xã/thị trấn, trạm y tế, trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở liên tục trong 5 ngày.
- Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu: Nhập liệu, tính toán giá trị trung bình và phân tích thống kê trên phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ mâu thuẫn giữa tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và năng lực quản lý chất thải sinh hoạt tại huyện miền núi Yên Lập. Xác định mục tiêu, yêu cầu đảm bảo tính khách quan của dữ liệu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp luận cứ khoa học để quy hoạch hệ thống thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn huyện.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn gốc phát sinh, phân loại rác thải (theo độ nguy hại, theo nguồn phát sinh và theo bản chất hóa học). Đánh giá tổng quan thực trạng phát sinh và công nghệ xử lý rác thải trên thế giới (Mỹ, Nhật Bản, Singapore, các nước châu Á) và tại Việt Nam:
- Kinh nghiệm quốc tế: Mô hình 3R và phân loại 3 dòng rác tại Nhật Bản (tỷ lệ chôn lấp chỉ 5%, tái chế trên 36%); công nghệ đốt thu hồi điện năng tại Singapore (đốt 56% lượng rác phát sinh); sự khác biệt về thành phần rác giữa các nước phát triển (Mỹ có tỷ lệ giấy chiếm 35-47%, rác hữu cơ chỉ 18-29%) và các nước đang phát triển (rác hữu cơ chiếm 50-70%).
- Thực trạng tại Việt Nam và Phú Thọ: Lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 38.000 tấn/ngày (tăng 12%/năm), thành phần hữu cơ chiếm 54-77%, tỷ lệ chôn lấp trực tiếp là 34%. Tại Phú Thọ, sự phát triển của 3 khu công nghiệp tập trung (Việt Trì, Bãi Bằng - Lâm Thao, Thanh Ba - Hạ Hòa) cùng các cơ sở tiểu thủ công nghiệp đã tạo áp lực lớn lên môi trường tiếp nhận, trong khi công tác phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện triệt để.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định chi tiết địa điểm nghiên cứu (huyện Yên Lập), thời gian (tháng 8 - 11/2017), thiết kế mẫu nghiên cứu gồm 100 phiếu điều tra xã hội học và quy trình cân đo rác thải 35 hộ gia đình trong 10 ngày, cân rác 15 khu chợ và các cơ quan hành chính, trường học.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Yên Lập
- Diện tích tự nhiên toàn huyện là 43.824,65 ha, gồm 17 đơn vị hành chính. Địa hình bị chia cắt mạnh thành 3 dạng chính: núi thấp đồi cao (vùng hạ huyện), địa hình thung lũng (trung tâm) và núi cao có độ dốc trên 25° (các xã phía Tây như Trung Sơn, Mỹ Lung, Lương Sơn).
- Dân số tính đến ngày 09/11/2017 là 94.785 người (23.978 hộ), trong đó dân tộc Mường chiếm 70%, Kinh 17%, Dao 3%. Tỷ lệ hộ nông nghiệp chiếm 83,35% (19.993 hộ). Thu nhập bình quân đầu người đạt 7,2 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn 19,5%.
2. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện Yên Lập đạt tổng cộng 38.893,36 kg/ngày (tương đương 14.196,08 tấn/năm). Tỷ lệ đóng góp từ các nguồn được tổng hợp trong bảng sau:
| STT |
Nguồn phát sinh |
Khối lượng (kg/ngày) |
Khối lượng (tấn/năm) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Khu dân cư (17 xã/thị trấn) |
35.755,44 |
13.050,73 |
91,93 |
| 2 |
Nguồn khác (cơ quan, trường học, trạm y tế...) |
2.736,00 |
999,01 |
7,04 |
| 3 |
Cụm công nghiệp (TT Yên Lập và Lương Sơn) |
215,00 |
78,48 |
0,55 |
| 4 |
Khu chợ (15 chợ trên toàn huyện) |
185,92 |
67,86 |
0,48 |
| Tổng |
Toàn huyện Yên Lập |
38.893,36 |
14.196,08 |
100,00 |
- Hệ số phát thải theo khu vực dân cư:
- Thị trấn Yên Lập có mức phát thải cao nhất: 0,56 kg/người/ngày (dân số 7.920 người, phát sinh 4.435,20 kg/ngày).
- Nhóm 4 xã ven thị trấn (Nga Hoàng, Đồng Thịnh, Thượng Long, Hưng Long): 0,45 kg/người/ngày.
- Nhóm 11 xã trung du, nông thôn (Phúc Khánh, Xuân Thủy, Xuân Viên, Xuân An, Lương Sơn, Mỹ Lương, Mỹ Lung, Đồng Lạc, Minh Hòa, Ngọc Đồng, Ngọc Lập): 0,34 kg/người/ngày.
- Xã vùng cao đặc biệt khó khăn (Trung Sơn): 0,26 kg/người/ngày (dân số 5.462 người, phát sinh 1.420,12 kg/ngày).
- Thành phần vật lý của rác thải sinh hoạt hộ gia đình:
| STT |
Thành phần rác thải |
Khối lượng (kg/ngày) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Rác hữu cơ (vỏ rau quả, thức ăn thừa, chất thải thực phẩm) |
24.572,82 |
63,18 |
| 2 |
Chất khác |
3.698,76 |
9,51 |
| 3 |
Nhựa, túi nilon |
2.730,31 |
7,02 |
| 4 |
Kim loại |
2.349,16 |
6,04 |
| 5 |
Vải sợi, đồ da |
2.193,59 |
5,64 |
| 6 |
Giấy, bìa carton |
2.115,80 |
5,44 |
| 7 |
Chai lọ thủy tinh |
1.232,92 |
3,17 |
| Tổng |
|
38.893,36 |
100,00 |
3. Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải
- Quy mô thu gom: Toàn huyện mới chỉ thu gom và xử lý được khoảng 13 tấn/ngày (đạt tỷ lệ khoảng 33,4% tổng lượng rác phát sinh).
- Phân loại địa bàn theo mức độ dịch vụ:
- Nhóm có hệ thống thu gom tập trung đang hoạt động (5 xã/thị trấn): Thị trấn Yên Lập (thu gom 100% do Trung tâm phát triển CCN và công trình công cộng huyện thực hiện); Xã Ngọc Lập (Hợp tác xã dịch vụ môi trường gồm 22 xã viên, 4 điểm tập kết, thu gom 2 lần/tuần đưa vào lò đốt); Xã Hưng Long (Hợp tác xã nông nghiệp thu gom đạt 40% trục đường chính và chợ bằng máy cày kéo thùng); Xã Lương Sơn (thu gom khu chợ và 5 khu dân cư chuyển về bãi Tam Giao); Xã Đồng Thịnh (thu gom khu dân cư dọc trục chính và giáp thị trấn chuyển về bãi rác huyện).
- Nhóm chỉ có hệ thống thu gom rác khu chợ (7 xã): Xuân Thủy, Đồng Lạc, Minh Hòa, Ngọc Đồng, Xuân Viên, Phúc Khánh, Nga Hoàng (các hộ kinh doanh tự gom ra phía sau chợ, hợp đồng vận chuyển định kỳ hoặc tự xử lý).
- Nhóm chưa có hệ thống thu gom (5 xã): Trung Sơn, Xuân An, Mỹ Lương, Mỹ Lung, Thượng Long (người dân tự xử lý bằng cách đốt tại vườn hoặc đổ tự do ra khe suối, ven đồi).
- Trang thiết bị, phương tiện: Toàn huyện chỉ có 01 xe tải ép rác dung tích 6 m³ và 21 xe đẩy tay thuộc Trung tâm phát triển Cụm công nghiệp và công trình công cộng; cấp xã chủ yếu dùng máy kéo, máy cày bừa kéo thùng hoặc xe cải tiến thô sơ.
- Hiện trạng cơ sở xử lý rác:
- Bãi rác Bến Sơn (thị trấn Yên Lập): Quy mô 3,2 ha, tổng mức đầu tư 25 tỷ đồng, tiếp nhận rác của thị trấn Yên Lập, Đồng Thịnh, Hưng Long, Thượng Long; công nghệ xử lý là chôn lấp lộ thiên, chưa hoàn thiện hạ tầng lót đáy và thu gom nước rỉ rác.
- Lò đốt rác xã Ngọc Lập: Công nghệ đốt bằng khí tự nhiên, diện tích 1.000 m², kinh phí đầu tư 1,8 tỷ đồng, vận hành từ tháng 7/2014 do HTX quản lý.
- Lò đốt rác xã Lương Sơn: Công nghệ đốt bằng khí tự nhiên, quy hoạch phục vụ 4 xã (Xuân An, Lương Sơn, Mỹ Lung, Mỹ Lương) nhưng thực tế mới xử lý được rác nội bộ xã Lương Sơn.
- Lò đốt rác xã Xuân Viên: Lắp đặt tại xóm Quyết Tiến 1, đã hoàn thiện chờ bàn giao vận hành.
- Lò đốt rác quy mô nhỏ: Trường THCS xã Trung Sơn tự đầu tư xử lý rác nội bộ trường.
- Hiện trạng lệ phí thu gom: Thị trấn Yên Lập thu 12.000 đồng/người/tháng; các xã Đồng Thịnh, Hưng Long, Lương Sơn thu 5.000 đồng/người/tháng; xã Ngọc Lập thu 2.000 đồng/người/tháng. Toàn bộ các đơn vị thu gom đều bị thâm hụt kinh phí, ngân sách cấp xã phải bù lỗ để duy trì vận hành.
4. Nhận thức của cộng đồng dân cư
Kết quả điều tra 100 người dân cho thấy:
- Về phân loại rác tại nguồn: 97% hộ gia đình không phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn (đổ lẫn vào xô/túi nilon); 95% có ý thức phân loại riêng phế liệu có thể bán đồng nát (chai lọ, sắt vụn, giấy bìa); 88% tận dụng thức ăn thừa, phụ phẩm rau củ làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm.
- Về nhận thức tác hại của xả rác bừa bãi: 94% nhận thức hành vi xả rác gây ô nhiễm môi trường; 93% cho rằng làm mất mỹ quan; 90% nhận thấy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe; 2% không biết.
- Về đánh giá chất lượng dịch vụ hiện tại: 77% người dân đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý rác là "chưa đảm bảo"; 12% đánh giá mức "bình thường"; chỉ có 9% đánh giá "đã đảm bảo" và 2% có ý kiến khác.
Kết quả và đóng góp
1. Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận đã lượng hóa toàn diện bức tranh phát sinh rác thải sinh hoạt của huyện Yên Lập với tổng lượng phát thải là 38,89 tấn/ngày (14.196,08 tấn/năm). Trong đó, hoạt động sinh hoạt hộ gia đình chiếm áp đảo (91,93%), rác từ cơ quan/trường học chiếm 7,04%, cụm công nghiệp chiếm 0,55% và khu chợ chiếm 0,48%.
- Xác lập định mức phát thải đặc thù cho các tiểu vùng kinh tế - địa hình miền núi: từ 0,26 kg/người/ngày (vùng cao) đến 0,56 kg/người/ngày (thị trấn trung tâm).
- Làm rõ cấu trúc thành phần rác thải với tỷ lệ hữu cơ cao (63,18%), tỷ lệ chất dẻo/nilon khó phân hủy là 7,02%, các thành phần tái chế (giấy, kim loại, thủy tinh) chiếm tổng cộng 14,65%.
- Xác định tỷ lệ thu gom toàn huyện còn rất thấp (đạt khoảng 33,4%, tương đương 13 tấn/ngày); chỉ có 5/17 xã/thị trấn có tổ chức thu gom tập trung tại khu dân cư, 5 xã hoàn toàn bỏ trắng dịch vụ.
2. Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Hoàn thiện mạng lưới thu gom và vận chuyển: Đầu tư bổ sung xe chuyên dùng ép rác, trang bị thùng rác công cộng chuẩn hóa, mở rộng phạm vi thu gom của các hợp tác xã dịch vụ môi trường đến các thôn xóm xa trung tâm.
- Nâng cấp công nghệ xử lý: Hạn chế và từng bước đóng cửa hình thức chôn lấp lộ thiên gây ô nhiễm tại bãi rác Bến Sơn; mở rộng mô hình lò đốt rác khí tự nhiên theo cụm liên xã (tận dụng công suất thiết kế của lò đốt xã Lương Sơn và Xuân Viên).
- Điều chỉnh chính sách và xã hội hóa: Xây dựng biểu mức thu lệ phí vệ sinh môi trường phù hợp với mức thu nhập của từng vùng để tiến tới tự chủ chi phí vận hành cho các tổ/đội thu gom; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao tỷ lệ phân loại rác thải tại nguồn.
3. Đóng góp của đề tài
Tác giả đã cung cấp bộ dữ liệu thực địa sơ cấp (cân đo thực tế và khảo sát 100 phiếu xã hội học) có độ tin cậy cao, phản ánh sát thực tế quản lý chất thải tại một huyện miền núi đa dân tộc; chỉ rõ sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch đầu tư hạ tầng (lò đốt xây dựng nhưng chưa vận hành hết công suất liên xã) và cơ chế bù đắp chi phí vận hành tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 4 tháng (từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017) nên chưa phản ánh được sự biến động của lượng rác thải sinh hoạt theo các mùa trong năm (đặc biệt là mùa lễ hội, Tết nguyên đán hoặc mùa thu hoạch nông sản). Mẫu cân đo hộ gia đình tập trung ở 35 hộ đại diện nên phạm vi phân tích thành phần lý hóa chi tiết (như độ ẩm, nhiệt trị, tỷ lệ C/N để ủ phân vi sinh) chưa được thực hiện bằng phương pháp phân tích phòng thí nghiệm chuyên sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá chất lượng môi trường xung quanh (quan trắc nước ngầm, nước rỉ rác, không khí) tại khu vực bãi chôn lấp Bến Sơn và khí thải từ các lò đốt khí tự nhiên tại xã Ngọc Lập, Lương Sơn; nghiên cứu tính khả thi kỹ thuật - kinh tế của phương pháp ủ phân hữu cơ (compost) quy mô hộ gia đình từ dòng rác thải hữu cơ chiếm 63,18% tại khu vực nông thôn miền núi.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Đất đai và Phát triển Nông thôn khi thực hiện các đề tài điều tra hiện trạng chất thải rắn cấp huyện/xã miền núi.
- Cán bộ quản lý môi trường tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Lập, UBND các xã/thị trấn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong việc xây dựng phương án giá dịch vụ thu gom rác, quy hoạch mạng lưới các điểm tập kết và tối ưu hóa tuyến thu gom liên xã.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là phương pháp phân vùng điều tra - bố trí cân đo rác thực địa và hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết lượng rác phát sinh phân bổ theo 17 đơn vị hành chính và từng nguồn thải cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người tại huyện Yên Lập dao động trong khoảng bao nhiêu?
Theo kết quả cân đo thực nghiệm của đề tài, lượng phát thải được chia làm 3 nhóm: cao nhất tại thị trấn Yên Lập đạt 0,56 kg/người/ngày; nhóm 4 xã ven thị trấn (Nga Hoàng, Đồng Thịnh, Hưng Long, Thượng Long) đạt 0,45 kg/người/ngày; nhóm 11 xã trung du nông thôn đạt 0,34 kg/người/ngày; và thấp nhất tại xã vùng cao đặc biệt khó khăn Trung Sơn đạt 0,26 kg/người/ngày.
2. Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh toàn huyện Yên Lập là bao nhiêu và nguồn nào chiếm tỷ trọng lớn nhất?
Tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên toàn huyện là 38.893,36 kg/ngày (khoảng 38,89 tấn/ngày, tương đương 14.196,08 tấn/năm). Trong đó, nguồn phát sinh từ khu dân cư chiếm tỷ trọng áp đảo với 91,93% (35.755,44 kg/ngày); các cơ quan, trường học, trạm y tế chiếm 7,04%; cụm công nghiệp chiếm 0,55% và 15 khu chợ chiếm 0,48%.
3. Thành phần rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Lập có đặc điểm gì nổi bật?
Rác thải sinh hoạt tại huyện có thành phần hữu cơ (vỏ rau củ, thức ăn thừa) chiếm tỷ lệ rất cao là 63,18% (24.572,82 kg/ngày). Các thành phần còn lại gồm: chất khác (9,51%), nhựa và nilon khó phân hủy (7,02%), kim loại (6,04%), vải sợi và đồ da (5,64%), giấy bìa carton (5,44%), và chai lọ thủy tinh (3,17%).
4. Hiện trạng công nghệ xử lý rác thải đang được áp dụng tại huyện Yên Lập như thế nào?
Huyện đang áp dụng song song hai phương pháp xử lý chính: Chôn lấp lộ thiên tại bãi rác Bến Sơn (thị trấn Yên Lập, diện tích 3,2 ha, vốn đầu tư 25 tỷ đồng, phục vụ 4 xã/thị trấn) và công nghệ lò đốt rác bằng khí tự nhiên tại xã Ngọc Lập (kinh phí 1,8 tỷ đồng, hoạt động từ tháng 7/2014) cùng các lò đốt được đầu tư tại xã Lương Sơn và Xuân Viên. Toàn huyện mới chỉ xử lý được khoảng 13 tấn rác/ngày (đạt 33,4% lượng phát sinh).
5. Kết quả khảo sát nhận thức cộng đồng về công tác phân loại rác thải tại nguồn cho thấy điều gì?
Khảo sát 100 người dân cho thấy có tới 97% hộ gia đình không thực hiện phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn trước khi xả thải. Tuy nhiên, 95% người dân có thói quen tách riêng các phế liệu có giá trị kinh tế (chai lọ, kim loại, giấy) để bán đồng nát và 88% hộ gia đình tận dụng phụ phẩm rau củ, cơm thừa làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm. 77% người dân được hỏi đánh giá công tác xử lý rác thải hiện nay của địa phương là chưa đảm bảo.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thùy Dung đã phản ánh chân thực, chi tiết hiện trạng phát sinh (38,89 tấn/ngày) và công tác quản lý chất thải sinh hoạt tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2017 - 2018. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại lớn về tỷ lệ thu gom thấp (33,4%), phương tiện thu gom thô sơ, mức thu lệ phí không đủ bù đắp chi phí và công nghệ chôn lấp lộ thiên tại bãi rác Bến Sơn còn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường. Các số liệu điều tra thực địa và hệ thống giải pháp tổ chức mạng lưới thu gom, nâng cấp lò đốt liên xã trong khóa luận là căn cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác quy hoạch bảo vệ môi trường nông thôn miền núi.