phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của việc đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch Chƣơng 2. Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch các huyện miền núi khu vực Trị - Thiên. Đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên cho phát triển du lịch các huyện miền núi khu vực Trị - Thiên.
Định hƣớng và giải pháp phát triển du lịch các huyện miền núi khu vực Trị - Thiên 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Trên thế giới 1. Nhóm nghiên cứu về lý luận du lịch DL đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển loài ngƣời (776 trƣớc công nguyên).
Trong quá trình phát triển, khái niệm DL không ngừng đƣợc mở rộng, củng cố thông qua các hƣớng tiếp cận khác nhau nhƣ giải trí, thƣơng mại hóa tối đa các SPDL mà không chú ý đến môi trƣờng. Đến đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX xuất hiện LHDL thay thế - DL bền vững. - Hƣớng nghiên cứu lý luận DL, đƣợc tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau: ở góc độ xã hội, một số nhà khoa học nhƣ Glusman, Kuns, Hunziker, Krapf đã coi DL nhƣ một hiện tƣợng xã hội, là sự di chuyển tạm thời của con ngƣời từ nơi cƣ trú đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ dƣỡng, thể thao, giải trí [dẫn theo 17, tr. Dƣới góc độ kinh tế, kinh doanh và cả xã hội, một số các nhà khoa học nhƣ R.Morrison (1998) và trƣờng đại học kinh tế Praha (Séc), trƣờng tổng hợp kinh tế thành phố Varna (Bungari) cùng chung cách tiếp cận DL là vừa đƣợc coi là ngành siêu lợi nhuận, mang lại lợi ích cho các nƣớc làm DL và doanh nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu tham quan DL, giải trí [dẫn theo 17, tr.
Dƣới góc độ môi trƣờng, nhà khoa học Becker (1999) cho rằng các hoạt động DL đƣợc xem xét yếu tố suy thoái sinh thái và các LHDL thay thế xuất hiện nhằm hƣớng đến chiến lƣợc DL tôn trọng môi trƣờng nhƣ DL rắn - hard tourism, DL mềm - soft tourism [120]. - Trong những năm gần đây, hƣớng nghiên cứu DL bền vững rất đƣợc coi trọng trong xây dựng chiến lƣợc PTDL mỗi quốc gia nhất là ở các nƣớc châu Âu, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nhƣ F.Weiermair (2001) [139] đã chứng minh hoạt động DL sẽ đạt mục tiêu xã hội, phát triển cộng đồng địa phƣơng, xóa đói giảm nghèo, bảo tồn văn hóa và mang lại lợi ích cho môi trƣờng tự nhiên nếu thực hiện các 10 nguyên tắc DL đảm bảo bền vững nhƣ: khai thác, sử dụng các nguồn TN hợp lí; hạn chế sử dụng quá mức TN và giảm thiểu chất thải ra môi trƣờng; phát triển phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng, phù hợp với quy hoạch tổng thể KT - XH; chú trọng chia sẻ lợi ích DL với cộng đồng địa phƣơng; khuyến khích tham gia cộng đồng địa phƣơng vào các HĐDL; tăng cƣờng tính trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng bá DL. Tác giả đã kế thừa những lý luận này vào phân tích các thuật ngữ, xu hƣớng PTDL - chú trọng yếu tố môi trƣờng và nhấn mạnh yếu tố bảo tồn DTLS (cách mạng, văn hoá), đồng thời sử dụng hợp lý TN nhằm đảm bảo nhu cầu hiện tại nhƣng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu DL cho tƣơng lai trên từng tiểu vùng NC. Nhóm nghiên cứu về đánh giá ĐKTN và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đƣợc coi là giai đoạn đặt nền móng cho hƣớng đánh giá điều kiện địa lí và tài nguyên phục vụ PTDL.
Phần lớn các công trình, đều đánh giá tổng hợp các hợp phần tự nhiên và dựa trên nền tảng lý luận cảnh quan học với 2 trƣờng phái chính gồm: trƣờng phái Liên Xô (cũ) và nƣớc Đông Âu; trƣờng phái Mỹ và các nƣớc Tây Âu. - Liên Xô (cũ) và các nƣớc Đông Âu: một số công trình tiêu biểu nhƣ nghiên cứu của Viện Địa lí - Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã đánh giá các hợp phần của tự nhiên và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá TNDL gồm có: các chỉ tiêu đánh giá bãi tắm về chiều rộng và vật liệu nền đáy của bãi biển nhƣ cát, sỏi, cuội, sét, bùn. Một số nghiên cứu của V.Tauxkat (1969) [140]; Mukhina (1973) [141] đã xây dựng các chỉ tiêu đánh giá mức độ đa dạng của cảnh quan (đánh giá kỹ thuật) cho dạo chơi ngắm cảnh.Pirôgiơnic (1985) [142] đã đề xuất đánh giá tổng hợp thành phần của hệ thống lãnh thổ DL nhƣ TNDL, cấu trúc của các luồng khách và sơ sở vật chất phục vụ DL theo các vùng và các đới DL nghỉ dƣỡng. - Mỹ và các nƣớc Tây Âu, hƣớng đánh giá ĐKTN và tài nguyên phục vụ mục đích DL tuy ra đời muộn hơn các nƣớc Liên Xô (cũ), Đông Âu nhƣng phát triển độc lập và hoàn thiện hơn về phƣơng pháp luận.Hall (2008) [149] đã coi đánh giá ĐKTN và tài nguyên là bƣớc cơ bản trong quy hoạch phát 11 triển DL địa phƣơng hoặc quy mô quốc gia.
Theo đó, DL tác động TNDL ở 2 mặt: vừa ảnh hƣởng đến sự đa dạng nguồn TNDL nói chung vừa ảnh hƣởng đến khai thác nguồn TNDL tự nhiên nói riêng, từ đó gắn với vấn đề bảo tồn. Nghiên cứu của một số các học giả khác nhƣ E. Tại trƣờng Đại học Illinois, Hoa Kỳ đã tập trung xây dựng bộ công cụ đánh giá giúp cho cộng đồng địa phƣơng lập mục tiêu, kế hoạch, chiến lƣợc PTDL. Đánh giá này dựa vào 4 tiêu chí: tính khác biệt, chất lƣợng tổng thể của tài nguyên, sức hấp dẫn và động lực của điểm tài nguyên với các thang điểm 4 hoặc 5 cấp.
Kết quả đánh giá TN cùng với phân tích SWOT tạo cơ sở đề ra mục tiêu, kế hoạch PTDL địa phƣơng [dẫn theo 17]. - Các nƣớc Châu Á, trong những thập niên gần đây, du lịch đƣợc coi là ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời các quan điểm DL chịu ảnh hƣởng chủ yếu bởi Liên Xô (cũ). Một số nƣớc tiêu biểu nhƣ Trung Quốc, tác giả Liu Xiao đã đánh giá TNDL theo mô hình chất lƣợng, môi trƣờng, vị trí và giá trị cộng đồng cho 41 điểm DL nổi bật ở Bắc Kinh thông qua 7 tiêu chí đánh giá [130]. Hiện nay, Trung Quốc đang áp dụng bảng phân loại TNDL của UNWTO cho thống kê, đánh giá TN, các nguồn lực PTDL cho cả nƣớc và từng địa phƣơng [dẫn theo 26], [37].
Một số học giả Ấn Độ khác thì tập trung NC xây dựng các chỉ tiêu SKH đối với con ngƣời [dẫn theo 18]. Ngày nay, hoạt động DL hầu hết ở các quốc gia đƣợc giám sát, quản lí chặt chẽ của UNWTO, WHC dựa trên tiêu chuẩn và điều kiện công nhận các di sản thế giới đồng thời giúp đỡ các quốc gia nghiên cứu, bảo vệ, tôn tạo chúng. Ứng dụng GIS trong quản lí TNDL đƣợc nhiều nhà nghiên cứu áp dụng ở Croatia, Cannada [137], [138]. Hƣớng nghiên cứu về đánh giá ĐKTN và tài nguyên nhằm PTDL có từ rất sớm.
Mỗi trƣờng phái đều tiếp cận ở góc độ khác nhau tạo nên những nét đặc trƣng riêng. Theo đó, tác giả đã tiếp cận hƣớng nghiên cứu trong việc xác định đối tƣợng đánh giá chính là dựa trên nền tảng cảnh quan thiên nhiên, đồng thời còn có các yếu tố tự nhiên, các giá trị văn hoá, đặc biệt vai trò của cộng đồng để cấu thành nên SPDL. Ngoài ra, tác giả đã kế thừa kết quả thực nghiệm của một số học giả Ấn Độ về khả năng thích nghi sinh học của con ngƣời trong thành lập bảng phân loại SKH (tiêu 12 chí SKH) cho các huyện miền núi khu vực Trị - Thiên. Mặt khác, các công trình khoa học có giá trị cao đã đƣợc đề cập cũng chính là kim chỉ nam cho các thế hệ nhà khoa học kế tiếp và tạo nên nền tảng vững chắc cho luận án về phƣơng pháp NC.
Nhóm nghiên cứu về các giải pháp phát triển du lịch vùng miền núi Vào đầu những năm XX, PTDL mang tính sinh thái, bền vững ở khu vực nông thôn và miền núi đƣợc đặc biệt quan tâm. Hầu hết các công trình NC đều xây dựng các giải pháp PTDL dựa vào kết quả đánh giá tài nguyên, cũng nhƣ phân tích đặc điểm lãnh thổ, kết hợp vận dụng một số kinh nghiệm PTDL thực tế. Một số công trình nghiên cứu theo hƣớng tiếp cận này nhƣ: NC của Greg Richards và Derek Hall (2000) về “Tourism and sustainable community development” (Du lịch và phát triển cộng đồng bền vững) [125]. Tác giả đã dựa trên kết quả khảo sát, nghiên cứu trên nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau nhằm tìm ra vai trò của các cộng đồng địa phƣơng trong phát triển du lịch trên cả ba khía cạnh kinh tế, văn hóa và môi trƣờng.
Sau đó, ông đã xây dựng các giải pháp nhằm tạo điều kiện để cộng đồng đƣợc tham gia và hƣởng lợi nhiều hơn từ hoạt động du lịch. Đây chính là cách thức để sự phát triển du lịch có tính hài hòa, bền vững hơn. Trong một NC khác cũng dựa vào nền tảng DL bền vững, tác giả Al - mughrabi và Abeer (2007) đã NC về “Ecotourism: A Sustainable Approach of Tourism in Jordan”(Du lịch sinh thái: Một cách tiếp cận bền vững của du lịch ở Jordan) [119]. Theo đó, các tác giả đã dựa trên cơ sở lý luận của DL để phân tích, đánh giá kinh nghiệm PTDL ở Úc, Bulgaria, Jordan nhằm đƣa ra giải pháp về chính sách thúc đẩy PTDL.
Ngoài ra, các giải pháp này cũng đƣợc NC để vận dụng cho một số quốc gia có những TN và điều kiện PTDL tƣơng tự. Cũng cùng với góc tiếp cận này, tác giả Ruth McAreavey và John McDonagh cũng đã NC về “Sustainable Rural Tourism: Lessons for Rural Development” (Du lịch nông thôn bền vững: Bài học cho phát triển nông thôn) [134]. Ông đã phân tích một số trƣờng hợp điển hình DL nông thôn ở Bắc Ireland, sau đó tiến hành đánh giá các yếu tố bền vững từ góc độ văn hóa, xã hội của hình thức du lịch này.