Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên, phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội". Luận án thuộc chuyên ngành Địa lý học (chuyên hướng Địa lý du lịch), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hải thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Về tính cấp thiết, tác giả xác định tài nguyên thiên nhiên là yếu tố trọng yếu cho phát triển kinh tế - xã hội; nếu không có chiến lược khai thác hợp lý, tài nguyên sẽ rơi vào tình trạng suy thoái và cạn kiệt. Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, nhu cầu du lịch cuối tuần không ngừng gia tăng, trở thành một xu thế xã hội tất yếu. Đặc biệt, từ ngày 01/10/1999, khi Nhà nước ban hành chế độ làm việc 40 giờ/tuần, quỹ thời gian rỗi của người lao động tăng lên đáng kể. Đối với các đô thị tập trung đông dân cư như Hà Nội, nhu cầu tìm kiếm các cơ sở nghỉ dưỡng cuối tuần tại khu vực phụ cận trở nên cấp thiết. Sự gia tăng đột biến của lượng khách tại một số điểm ven đô đã gây ra tình trạng quá tải cục bộ, đe dọa trực tiếp đến môi trường và cảnh quan tự nhiên. Đề tài được triển khai nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết 45/CP của Chính phủ về việc đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, nâng cao dân trí và phục hồi sức khỏe cho nhân dân.

Về khoảng trống nghiên cứu, văn bản nêu rõ: cho đến thời điểm tác giả thực hiện luận án, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu và đánh giá tổng hợp nguồn tài nguyên trong khu vực phụ cận phục vụ riêng cho mục đích phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội. Các nghiên cứu trước đó chỉ dừng lại ở việc đánh giá đơn lẻ tại từng điểm cụ thể (như Ba Vì, hồ Đại Lải), hoặc đánh giá tiềm năng trên phạm vi toàn quốc ở tỷ lệ nhỏ mang tính khái quát, định tính; đồng thời các tài liệu hiện có chủ yếu tập trung vào việc thu hút khách từ nơi khác đến Hà Nội mà chưa khảo sát luồng khách xuất phát từ nội thành Hà Nội đi ra các vùng phụ cận.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là xây dựng cơ sở khoa học cho việc quy hoạch phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch tự nhiên. Để thực hiện mục tiêu này, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Nghiên cứu nhu cầu, sở thích của người dân Hà Nội đối với hoạt động du lịch cuối tuần.
  2. Kiểm kê tài nguyên của khu vực Hà Nội và phụ cận cho việc đáp ứng nhu cầu du lịch cuối tuần.
  3. Xây dựng cơ sở lý luận cho việc đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên trong khu vực, phục vụ phát triển du lịch cuối tuần; trên cơ sở đó tiến hành nghiên cứu, đánh giá một số điểm tài nguyên du lịch trong khu vực.
  4. Đề xuất định hướng sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên cho việc phát triển du lịch cuối tuần trong khu vực nghiên cứu.

Luận án xây dựng hai luận điểm bảo vệ chính:

  • Luận điểm 1: Du lịch cuối tuần là nhu cầu tất yếu, ngày càng tăng của người dân Hà Nội, gắn liền với hoạt động nghỉ ngơi và vui chơi giải trí ngoài trời. Nhu cầu này hoàn toàn có thể được đáp ứng bởi nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú và đa dạng ở khu vực Hà Nội và phụ cận.
  • Luận điểm 2: Đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội thực chất là việc xác định sức hút du lịch giữa điểm đi (nội thành Hà Nội) và các điểm đến. Kết quả đánh giá tám điểm tài nguyên cho thấy các điểm có hồ nước nằm ở khoảng cách phù hợp có mức độ rất thuận lợi; các điểm đồi núi ở mức thuận lợi; các điểm du lịch biển ở mức ít thuận lợi trong thời điểm nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là tài nguyên du lịch tự nhiên và mối quan hệ tương tác giữa tài nguyên du lịch tự nhiên với hoạt động du lịch cuối tuần của người dân Hà Nội, trong đó trọng tâm hướng vào loại hình hoạt động phổ biến nhất là nghỉ ngơi và vui chơi giải trí ngoài trời.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi không gian: Khu vực Hà Nội và vùng phụ cận được giới hạn trong bán kính khoảng 150 km kể từ trung tâm thành phố theo các trục giao thông chính. Địa bàn bao gồm toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ các tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây, Hòa Bình và Thanh Hóa.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực địa và các đợt điều tra xã hội học được thực hiện trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2001; chuỗi số liệu thống kê lượng khách và các chỉ tiêu liên quan được cập nhật từ năm 1995 đến năm 2000.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên du lịch theo hai hướng tiếp cận chính: đánh giá theo từng thành phần và đánh giá tổng hợp, chia theo các khu vực địa lý và trường phái nghiên cứu:

Tại Nga và các nước Đông Âu, hướng nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ du lịch và nghỉ dưỡng phát triển mạnh từ những năm 1960 - 1970:

  • Xtauxkat (1969) nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá cảnh quan phục vụ quy hoạch du lịch, kết hợp cả các yếu tố tự nhiên và kinh tế như rừng, sông, địa hình và mạng lưới giao thông.
  • Iu. Vedenhin và N. Mirosnhitrenco (1969, 1975) đánh giá tổng thể các yếu tố tự nhiên làm tiền đề cho việc tổ chức các vùng du lịch nghỉ dưỡng, đồng thời xây dựng các chỉ tiêu đo lường mức độ tương phản địa hình.
  • L. Mukhina (1973) đóng góp phương pháp luận đánh giá kỹ thuật các tổng thể tự nhiên cho loại hình nghỉ ngơi tĩnh tại của người cao tuổi, đặt nền móng cho quy trình đánh giá hai giai đoạn.
  • Kotliarop (1978) nghiên cứu đánh giá lãnh thổ phục vụ quá trình hình thành và phát triển các tổng thể lãnh thổ du lịch.
  • Tsarơphis (1979) thực hiện các công trình đánh giá tài nguyên phục vụ riêng cho hoạt động nghỉ dưỡng.
  • Pirojnik (1985) tiến hành phân vùng du lịch lãnh thổ Liên Xô dựa trên đánh giá tổng hợp ba thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch gồm tài nguyên, luồng khách và cơ sở vật chất kỹ thuật.
  • Fines K. (1968, Đức) đánh giá các điều kiện địa hình, khí hậu và thực vật cho việc quy hoạch trung tâm nghỉ dưỡng; Vatrinxkala (Ba Lan) xây dựng mô hình đánh giá tài nguyên thiên nhiên phục vụ loại hình du lịch núi.

Tại các nước phương Tây, việc nghiên cứu và đánh giá tài nguyên được lồng ghép trong các đồ án quy hoạch du lịch:

  • Baud-Bovy & Fred Lawson (1977, 1982) khẳng định đánh giá tài nguyên là bước nền tảng của quy hoạch du lịch; đưa ra dữ liệu thực nghiệm cho thấy tại các đô thị trên 1 triệu dân, có tới 41% hộ gia đình sở hữu "ngôi nhà thứ hai" và vào những dịp nghỉ cuối tuần hoặc ngày lễ, lượng người rời đô thị có thể lên tới 1/3 dân số thành phố.
  • Clare A. Gunn (1994) và Edward Inskeep (1991) xây dựng các ma trận đánh giá cho quy hoạch, xem xét các khía cạnh về khả năng tiếp cận, tính khả thi kinh tế, tác động môi trường và xã hội.
  • Boniface & Cooper (1993) định danh loại hình du lịch cuối tuần là "du lịch ở vùng phụ cận" (peripheral tourism) gắn với hành vi "đi trốn" khỏi các trung tâm công nghiệp ô nhiễm trong phạm vi dưới 2 giờ di chuyển.
  • Lozato-Giotard (1987) phân loại du lịch cuối tuần là dạng hoạt động chuyển tiếp giữa du lịch và giải trí, tiêu chí phân định dựa trên thời gian di chuyển và động cơ chuyến đi.
  • Leiper (1990) đề xuất sơ đồ hệ thống du lịch cấu thành từ ba phân hệ: điểm đi, điểm đến và các tuyến hành lang du lịch kết nối.
  • De Vries & M. Goossen (2001) đánh giá tài nguyên rừng và các điểm thiên nhiên phục vụ du lịch bền vững bằng phương pháp điều tra xã hội học kết hợp hệ thống thông tin địa lý (GIS).

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu đánh giá tiềm năng và tài nguyên du lịch được triển khai từ thập niên 1980:

  • Các đề tài quy hoạch cấp quốc gia như "Khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch Việt Nam" (1986), "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam" (1995) của Tổng cục Du lịch và Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch.
  • Đặng Duy Lợi (1992, 1993) trong luận án phó tiến sĩ về huyện Ba Vì đã đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ du lịch, xác định giới hạn cự ly nghỉ cuối tuần thích hợp (20 km đối với xe đạp, 45 - 60 km đối với phương tiện cơ giới).
  • Nguyễn Thế Chinh (1995) đánh giá điều kiện tự nhiên xác định điểm tuyến du lịch Nghệ An; Hồ Công Dũng (1996) nghiên cứu khu vực Bắc Trung Bộ; Lê Văn Tin (1999, 2000) đánh giá tài nguyên thiên nhiên tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Phạm Trung Lương chủ biên (2000) trong công trình "Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam" đã tổng quan có hệ thống về lý luận đánh giá kỹ thuật tài nguyên du lịch.
  • Tại khu vực Hà Nội và phụ cận: Vũ Tuấn Cảnh (1993), Phạm Văn Du (1996), và báo cáo "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận đến năm 2010 và định hướng đến 2020" của Tổng cục Du lịch (2001).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trong nước trước đó chỉ đánh giá ở quy mô khái quát toàn quốc hoặc đánh giá một điểm biệt lập, chưa có công trình nào đánh giá tài nguyên thiên nhiên theo hướng tổng hợp phục vụ chuyên biệt cho hoạt động du lịch cuối tuần. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng khung đánh giá kỹ thuật gắn liền với chủ thể du khách (nhu cầu, sở thích của người dân Hà Nội) và tính toán khoảng cách không gian kết nối giữa điểm đi và điểm đến.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết, khái niệm và khung phân tích chuyên ngành:

  • Khái niệm tài nguyên du lịch: Luận án sử dụng định nghĩa trong Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999), phân chia tài nguyên du lịch thành hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên (các thành phần, thể tổng hợp và hiện tượng tự nhiên) và tài nguyên du lịch nhân văn. Tác giả nhấn mạnh tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, chỉ trở thành tài nguyên khi xuất hiện nhu cầu du lịch của con người.
  • Khung lý thuyết về nhu cầu và cầu du lịch: Cầu du lịch được phân tách thành cầu dịch vụ và cầu hàng hóa. Cầu dịch vụ gồm dịch vụ đặc trưng (nguyên nhân, mục đích chính của chuyến đi), dịch vụ chính (ăn uống, lưu trú) và dịch vụ bổ sung (vui chơi, giải trí, y tế, thông tin).
  • Khái niệm du lịch cuối tuần: Tiếp thu quan điểm của Lozato-Giotard (1987), Boniface & Cooper (1993), Đặng Duy Lợi (1993), xác định đây là dạng du lịch ngắn ngày (1 - 2 ngày hoặc trong ngày) của cư dân đô thị hướng về vùng phụ cận nhằm mục đích nghỉ ngơi, phục hồi thể lực và hòa nhập với môi trường tự nhiên.
  • Mô hình hệ thống du lịch: Áp dụng mô hình của Leiper (1990) gồm ba thành phần tương tác: nơi đi (nội thành Hà Nội - điểm cấp khách), nơi đến (các điểm tài nguyên phụ cận) và tuyến giao thông kết nối.
  • Phương pháp luận đánh giá kỹ thuật (đánh giá mức độ thuận lợi): Luận án kế thừa quan điểm của L. Mukhina (1973), tích hợp ba hình thức đánh giá:
    • Đánh giá tâm lý - thẩm mỹ: Xác định mức độ cảm xúc, phản ứng thẩm mỹ của du khách trước cảnh quan.
    • Đánh giá sinh - khí hậu: Xác định khoảng thời gian và chế độ khí hậu thích hợp với sức khỏe con người đối với từng loại hình hoạt động ngoài trời.
    • Đánh giá kỹ thuật: Phân loại mức độ thuận lợi của các tổng thể tự nhiên cho một loại hình sử dụng kinh tế cụ thể.

Hoạt động đánh giá được tổ chức theo quy trình hai giai đoạn theo chỉ dẫn của L. Mukhina:

Thành phần Giai đoạn 1: Xây dựng các chỉ dẫn cho việc đánh giá Giai đoạn 2: Đánh giá tài nguyên du lịch
Nhiệm vụ Xây dựng cơ sở lý luận, xác định đối tượng, mục tiêu, chỉ tiêu và thang đo Khảo sát thực địa, đánh giá các điểm tài nguyên cụ thể
Đối tượng Mối tác động tương hỗ giữa tài nguyên du lịch với các hoạt động cụ thể Đặc điểm của tài nguyên du lịch tại các điểm nghiên cứu
Biện pháp Xây dựng các chỉ dẫn và thang bậc đánh giá Chuyển các đặc điểm tài nguyên sang các cấp đánh giá theo thang điểm
Sản phẩm Bản chỉ dẫn phương pháp đánh giá Bản đồ đánh giá, chú giải và bảng kết quả đánh giá tổng hợp

Các phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu nhu cầu, thị hiếu của người dân nội thành Hà Nội. Dung lượng mẫu phân tích hợp lệ là 298 phiếu (ghi nhận chi tiết tại Phụ lục 2).
  • Kỹ thuật phân tích định lượng: Sử dụng phần mềm chuyên dụng SPSS để xử lý số liệu điều tra xã hội học, tính toán tần số (Frequency), tỷ lệ phần trăm (Percent, Valid Percent, Cumulative Percent).
  • Phương pháp đánh giá kỹ thuật và lập ma trận: Xây dựng các thang đo định lượng và bán định lượng (từ 3 đến 5 cấp) cho từng thành phần địa hình, khí hậu, bãi tắm, mặt nước và cơ sở hạ tầng.
  • Phương pháp bản đồ: Biên tập và thành lập hệ thống bản đồ gồm bản đồ tài nguyên tỷ lệ 1:10.000 cho các điểm nghiên cứu và bản đồ đánh giá sức hút du lịch.
  • Nguồn tư liệu/dữ liệu: Số liệu khảo sát thực địa từ năm 1996 đến 2001; tài liệu thống kê khí tượng thủy văn trạm 42A; Niên giám thống kê năm 2000; các báo cáo của Sở Du lịch Hà Nội và các tỉnh nghiên cứu; số liệu từ bốn đề tài nghiên cứu khoa học các cấp mà tác giả tham gia hoặc chủ trì liên quan đến Vườn quốc gia Cúc Phương (1997), Vịnh Hạ Long (2000), hệ thống lãnh thổ du lịch Hà Nội - phụ cận (2000 - 2001) và điều chỉnh quy hoạch du lịch Hà Nội (2001).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch cuối tuần

Chương này trình bày hệ thống lý luận về tài nguyên du lịch, bản chất kinh tế - xã hội của du lịch cuối tuần và phương pháp luận đánh giá tài nguyên.

Tác giả phân tích các thuộc tính đặc trưng của tài nguyên du lịch: tính lịch sử (phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội), giá trị vô hình kết hợp giá trị hữu hình, tính không thể di dời (đòi hỏi du khách phải di chuyển đến nơi có tài nguyên), và tính mùa vụ sâu sắc do chịu sự chi phối của tự nhiên và khí hậu. Du lịch cuối tuần được định nghĩa là hoạt động ngắn ngày diễn ra vào các ngày nghỉ thứ Bảy và Chủ nhật, mang tính nhịp điệu cao. Tác giả dẫn chứng tính toán tại các quốc gia áp dụng chế độ làm việc năm ngày một tuần cho thấy thời gian nghỉ cuối tuần chiếm tới 80% tổng quỹ ngày nghỉ trong năm của người lao động, trong khi thời gian nghỉ phép năm chỉ chiếm 15 - 20%. Nhu cầu nghỉ cuối tuần chiếm tỷ trọng áp đảo trong cấu trúc nhu cầu nghỉ ngơi (chẳng hạn tại Adecbaizan chiếm 60% tổng nhu cầu).

Về chức năng, du lịch cuối tuần đóng ba vai trò cơ bản: chức năng xã hội (bảo vệ sức khỏe, giảm trung bình 30% bệnh tật chung, giảm 50% bệnh tim mạch, 40% bệnh hô hấp theo các nghiên cứu y sinh học trích dẫn); chức năng kinh tế (tái sản xuất sức lao động, tạo việc làm, tái phân phối thu nhập từ thành thị về nông thôn); và chức năng sinh thái (tối ưu hóa mối tương tác giữa con người và thiên nhiên thông qua việc hình thành các vành đai xanh, bảo vệ lưu vực nước).

Chương 1 thiết lập khung đánh giá kỹ thuật gồm việc xác định mối quan hệ tương hỗ giữa khách thể (tổng thể tự nhiên) và chủ thể (du khách đô thị). Ba kiểu đánh giá thành phần được kết hợp gồm đánh giá tâm lý - thẩm mỹ, sinh - khí hậu và kỹ thuật để tạo cơ sở phân loại mức độ thuận lợi của tài nguyên cho quy hoạch.

Chương 2. Nhu cầu và tiềm năng phát triển du lịch cuối tuần ở Hà Nội và phụ cận

Chương 2 khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu và công bố kết quả điều tra xã hội học về nhu cầu du lịch cuối tuần của người dân Hà Nội.

Về nguồn khách, sự gia tăng dân số đô thị và số lượng học sinh, sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội năm 2000 tạo ra áp lực tinh thần lớn và nhu cầu giải tỏa căng thẳng rất cao.

Dữ liệu xử lý từ bảng hỏi điều tra xã hội học bằng phần mềm SPSS (Phụ lục 2 và các Bảng 2.6 - 2.11) cung cấp các thông số định lượng cụ thể:

Chỉ tiêu điều tra Tần số (N = 298) Tỷ lệ phần trăm hợp lệ (%)
Sở thích đi nghỉ cuối tuần
- Thích 203 68,81
- Không thích 92 31,19
Thực tế đi nghỉ cuối tuần trong năm
- Có đi 97 32,60
- Không đi 201 67,40
Tần suất đi trong năm (n = 97)
- Đi 1 - 2 lần 60 61,86
- Đi trên 2 lần 37 38,14
Loại hình du lịch ưa thích nhất
- Vui chơi giải trí 171 57,60
- Nghỉ ngơi 72 24,00
- Tham quan 55 18,40
Mục đích của chuyến đi
- Vui chơi thoải mái 207 69,46
- Đến nơi mới lạ 49 16,44
- Xem phong cảnh đẹp 42 14,09
Loại điểm tài nguyên ưa thích nhất
- Bãi biển 114 38,26
- Hồ nước 103 34,56
- Đồi núi 81 27,18
Thời gian đi đường phù hợp nhất
- Dưới 1 giờ 85 28,72
- Từ 1 - 2 giờ 147 49,66
- Từ 2 - 3 giờ 56 18,92
- Trên 3 giờ 8 2,70
Phương tiện giao thông tiện lợi nhất
- Xe ô tô hợp đồng 182 61,07
- Xe máy 61 20,47
- Xe buýt 18 6,04
- Các loại khác 37 12,42
Cơ sở lưu trú được ưa thích nhất
- Khách sạn 151 50,67

Về tiềm năng, tác giả tiến hành kiểm kê các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên vùng phụ cận trong bán kính 150 km, bao gồm hệ thống các bãi tắm biển ven vịnh Bắc Bộ, các hồ chứa tự nhiên và nhân tạo vùng trung du, các khối núi thấp có khí hậu mát mẻ và hệ sinh thái đất ngập nước, chim nước.

Chương 3. Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần tại một số điểm nghiên cứu

Chương 3 là phần thực nghiệm trọng tâm của luận án. Tác giả lựa chọn tám điểm nghiên cứu đại diện cho ba nhóm cảnh quan tự nhiên đặc trưng trong khu vực phụ cận:

  1. Nhóm bãi biển: Đồ Sơn (Hải Phòng), Thịnh Long (Nam Định), Sầm Sơn (Thanh Hóa).
  2. Nhóm hồ nước và vùng nước: Hồ Quan Sơn (Hà Tây), hồ Đồng Quan - Đền Sóc (Hà Nội), Đảo Cò Chi Lăng Nam (Hải Dương).
  3. Nhóm đồi núi và thác rừng: Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Khoang Xanh (Ba Vì, Hà Tây).

Tác giả xây dựng hệ thống tiêu chí và bảng thang điểm đánh giá kỹ thuật (Bảng 3.25 đến Bảng 3.30):

  • Bãi biển cho tắm biển: Chiều rộng bãi nông, nền đáy bãi tắm, số ngày mùa hè có nhiệt độ nước 18 - 22°C, tốc độ dòng chảy (m/s), tỷ lệ thực vật nước trong phạm vi 100 m cách bờ.
  • Hồ nước: Diện tích mặt thoáng, chiều sâu nước, độ trong, độ thoải bờ, khả năng bơi thuyền, thể thao và mức độ che phủ thực vật ven bờ.
  • Địa hình đồi núi: Độ cao tuyệt đối, độ dốc sườn, độ che phủ rừng, sự hiện diện của thác ghềnh, mức độ tương phản địa hình.
  • Tính đa dạng, tương phản, độc đáo và khả năng mở rộng tham quan.
  • Cơ sở hạ tầng: Mạng lưới giao thông tiếp cận, nguồn điện, nguồn nước, cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống.

Kết quả đánh giá thành phần và đánh giá tổng hợp được thể hiện qua các Bảng 3.31 đến Bảng 3.38:

  • Đánh giá sự phù hợp của hồ nước: Hồ Đồng Quan và hồ Quan Sơn đạt điểm đánh giá rất cao về khả năng tổ chức các hoạt động bơi thuyền, dã ngoại và cắm trại ngoài trời.
  • Đánh giá địa hình núi: Tam Đảo đạt ưu thế vượt trội về khí hậu tiểu vùng mát mẻ quanh năm, Khoang Xanh có ưu thế về cảnh quan rừng thưa và suối thác kết hợp.
  • Đánh giá bãi biển: Bãi biển Sầm Sơn và Đồ Sơn có điểm cao về chất lượng bãi cát và độ rộng bờ biển, nhưng điểm đánh giá khí hậu sinh học bị giới hạn do tính mùa vụ chỉ khai thác được từ 4 - 5 tháng mùa hè.
  • Đánh giá tổng hợp sức hút du lịch: Sức hút được tính toán dựa trên sự kết hợp giữa độ hấp dẫn tài nguyên, cơ sở hạ tầng và khoảng cách di chuyển từ trung tâm Hà Nội. Tác giả tiến hành phân hạng tám điểm nghiên cứu thành ba nhóm:
    • Nhóm rất thuận lợi: Hồ Quan Sơn, hồ Đồng Quan, Đảo Cò. Nhóm này có tài nguyên hồ nước trong sạch, cảnh quan đa dạng, cự ly gần (dưới 60 - 80 km), thời gian đi lại dưới 2 giờ, khai thác được bốn mùa, chi phí di chuyển thấp.
    • Nhóm thuận lợi: Khoang Xanh, Tam Đảo. Nhóm này có cảnh quan đồi núi và vi khí hậu đặc sắc, cự ly vừa phải (60 - 85 km), hạ tầng tương đối tốt.
    • Nhóm ít thuận lợi: Đồ Sơn, Sầm Sơn, Thịnh Long. Mặc dù là các trung tâm du lịch biển nổi tiếng nhưng đối với du lịch cuối tuần của người dân Hà Nội, các điểm này ít thuận lợi do cự ly vượt xa bán kính di chuyển hợp lý (>100 - 150 km), thời gian di chuyển bằng đường bộ lớn hơn 3 - 4 giờ, chi phí cao và tính mùa vụ khắt khe.

Chương 4. Hiện trạng và định hướng khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội

Chương 4 phân tích thực trạng khai thác tài nguyên và đề xuất các định hướng, giải pháp phát triển đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.

Về hiện trạng: Hoạt động du lịch cuối tuần phát triển tự phát với tốc độ rất nhanh. Người dân nội thành Hà Nội đi du lịch chủ yếu theo nhóm gia đình, bạn bè hoặc tập thể cơ quan bằng xe máy hoặc ô tô thuê hợp đồng. Quá trình phát triển nhanh làm nảy sinh các mặt tiêu cực: tình trạng quá tải nghiêm trọng tại các điểm đến vào thứ Bảy và Chủ nhật; ô nhiễm nguồn nước và rác thải sinh hoạt; mâu thuẫn giữa khai thác du lịch với sản xuất nông - lâm nghiệp; tài nguyên bị suy thoái do thiếu quy hoạch đồng bộ.

Về định hướng tổ chức không gian lãnh thổ du lịch: Luận án đề xuất mô hình phân vùng theo các vành đai cự ly:

  • Vành đai 1 (cự ly dưới 50 km tính từ trung tâm Hà Nội): Khai thác các hoạt động dã ngoại, vui chơi giải trí trong ngày không lưu trú tại các vùng đệm, hồ nước ven đô (Đồng Quan, Sóc Sơn, Gia Lâm).
  • Vành đai 2 (cự ly từ 50 đến 100 km): Khai thác các chuyến du lịch cuối tuần 2 ngày 1 đêm có lưu trú tại các điểm đồi núi, hồ nước trung du như Ba Vì - Khoang Xanh, Quan Sơn, Tam Đảo, Đảo Cò.
  • Vành đai 3 (cự ly từ trên 100 đến 150 km): Định hướng phát triển cho giai đoạn sau khi mạng lưới hạ tầng giao thông cao tốc được nâng cấp, từng bước khai thác các điểm nghỉ dưỡng biển và vùng núi cao.

Về các nhóm giải pháp thực hiện:

  • Giải pháp quy hoạch: Xây dựng quy hoạch tổng thể không gian du lịch cuối tuần mang tính liên tỉnh, tránh đầu tư dàn trải và trùng lặp sản phẩm giữa các địa phương.
  • Giải pháp tổ chức và quản lý: Thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa nơi gửi khách (Hà Nội) và nơi nhận khách (các tỉnh phụ cận); xây dựng ban quản lý chuyên trách tại các điểm tài nguyên tập trung.
  • Giải pháp cơ chế, chính sách: Cho phép và khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân đầu tư phát triển các khu du lịch sinh thái, khu du lịch cuối tuần; đề xuất chính sách ưu đãi giảm thuế suất trong 3 - 5 năm đầu; áp dụng cơ chế tín chấp, thế chấp đất đai hình thành các tổng thể nghỉ dưỡng tại Ba Vì, Tam Đảo; áp dụng chế tài hành chính nghiêm ngặt đối với các hành vi vi phạm môi trường.
  • Giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường: Thực hiện bắt buộc đánh giá tác động môi trường cho mọi dự án phát triển du lịch; tuyên truyền giáo dục ý thức sinh thái cho du khách; tạo sinh kế và việc làm cho cộng đồng địa phương thông qua hoạt động cung ứng dịch vụ để cộng đồng tự giác tham gia bảo vệ tài nguyên.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn:

  • Về lý luận khoa học:
    • Xác định và lượng hóa các đặc điểm nhu cầu, thị hiếu và hành vi của người dân Hà Nội đối với hoạt động du lịch cuối tuần thông qua điều tra xã hội học thực nghiệm.
    • Xây dựng cơ sở lý luận đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên chuyên biệt cho loại hình du lịch cuối tuần; hoàn thiện phương pháp luận đánh giá kỹ thuật thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa ba thành phần của hệ thống du lịch: điểm đi (Hà Nội), điểm đến (tài nguyên phụ cận) và tuyến giao thông kết nối.
    • Xác lập mô hình đánh giá sức hút du lịch, chỉ ra quy luật phân hóa mức độ thuận lợi giữa các dạng tài nguyên phụ thuộc vào hàm tương quan cự ly và thời gian di chuyển (hồ nước thuận lợi hơn đồi núi, đồi núi thuận lợi hơn bãi biển).
    • Thành lập hệ thống 10 bản đồ và sơ đồ du lịch phục vụ việc đánh giá tài nguyên cho từng điểm nghiên cứu và toàn vùng.
  • Về giá trị thực tiễn và giải pháp:
    • Cung cấp kết quả đánh giá kỹ thuật chi tiết tại tám điểm tài nguyên đại diện, tạo cơ sở dữ liệu tin cậy cho việc lập quy hoạch phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội và các địa phương liên quan.
    • Đề xuất khung phân vùng tổ chức không gian lãnh thổ theo ba vành đai cự ly gắn với thời gian di chuyển.
    • Đưa ra hệ thống bốn nhóm giải pháp cụ thể về quy hoạch, cơ chế chính sách liên kết vùng, ưu đãi tài chính và các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái dựa vào cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tự nhìn nhận do đối tượng nghiên cứu đa dạng, phức tạp và địa bàn trải rộng trên nhiều tỉnh, đề tài chưa thể tính toán cụ thể và chi tiết chỉ tiêu sức chứa du lịch (carrying capacity) cho từng điểm du lịch riêng biệt. Tác giả lưu ý sức chứa thực tế không chỉ giới hạn ở sức chứa sinh thái mà còn bao gồm sức chứa tâm lý và sức chứa kinh tế, đòi hỏi phải có các nghiên cứu chuyên sâu độc lập.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án định hướng việc tiếp tục đo đạc, tính toán các loại hình sức chứa tại từng điểm du lịch cụ thể, từ đó hoàn thiện các căn cứ kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho công tác lập quy hoạch chi tiết và quản lý vận hành các khu du lịch cuối tuần ở vùng phụ cận Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Nội dung luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước và viện nghiên cứu: Tổng cục Du lịch, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Sở Du lịch Hà Nội và các Sở Du lịch, Sở Văn hóa - Thông tin các tỉnh phụ cận (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình...) trong việc lập quy hoạch tổng thể và xây dựng chính sách liên kết phát triển du lịch vùng Thủ đô.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên: Các chuyên ngành Địa lý học, Địa lý du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Kinh tế phát triển, Quy hoạch đô thị và nông thôn.
  • Các nhà đầu tư và doanh nghiệp kinh doanh du lịch: Doanh nghiệp lữ hành khai thác tour ngắn ngày; các nhà đầu tư khu du lịch sinh thái, trang trại nghỉ dưỡng ven đô.

Các phần nội dung có giá trị tham khảo trực tiếp gồm:

  • Khung phương pháp luận đánh giá kỹ thuật hai giai đoạn theo L. Mukhina tại Chương 1.
  • Hệ thống số liệu điều tra xã hội học và bảng tần số SPSS về nhu cầu, phương tiện, cự ly di chuyển của người dân Hà Nội tại Chương 2 và Phụ lục 2.
  • Bảng chỉ tiêu, thang điểm đánh giá bãi tắm, hồ nước, đồi núi và quy trình tính toán sức hút du lịch tại Chương 3.
  • Mô hình phân vùng vành đai không gian và cơ chế liên kết quản lý vùng tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát điều tra xã hội học bằng bảng hỏi của luận án chỉ ra đặc điểm nào nổi bật nhất về nhu cầu và thời gian di chuyển của người dân Hà Nội khi đi du lịch cuối tuần?
Kết quả xử lý SPSS (Phụ lục 2) cho thấy 68,81% người được hỏi thích đi nghỉ cuối tuần; loại hình ưa thích nhất là vui chơi giải trí (57,60%); mục đích hàng đầu là vui chơi thoải mái (69,46%). Về thời gian di chuyển trên đường, đa số người dân lựa chọn khoảng thời gian từ 1 - 2 giờ (49,66%) hoặc dưới 1 giờ (28,72%), chỉ có 2,70% chấp nhận thời gian di chuyển trên 3 giờ. Phương tiện được đánh giá tiện lợi nhất là xe ô tô hợp đồng (61,07%).

2. Vì sao các trung tâm du lịch biển nổi tiếng như Đồ Sơn và Sầm Sơn lại chỉ được xếp vào nhóm "ít thuận lợi" đối với du lịch cuối tuần của Hà Nội?
Dù có tài nguyên bãi tắm đẹp và cơ sở hạ tầng phát triển, các điểm biển này nằm ở cự ly xa trung tâm Hà Nội (từ 100 đến trên 150 km), thời gian di chuyển đường bộ vượt quá 3 - 4 giờ, chi phí đi lại cao không tương thích với quỹ thời gian 1 - 2 ngày nghỉ cuối tuần; mặt khác hoạt động tắm biển mang tính mùa vụ khắt khe, chỉ diễn ra thuận lợi trong 4 - 5 tháng mùa hè.

3. Tám điểm tài nguyên được lựa chọn đánh giá thực nghiệm trong Chương 3 đại diện cho những nhóm cảnh quan nào và thuộc địa phương nào?
Tám điểm nghiên cứu đại diện cho ba nhóm cảnh quan chính:

  • Nhóm bãi biển: Đồ Sơn (Hải Phòng), Thịnh Long (Nam Định), Sầm Sơn (Thanh Hóa).
  • Nhóm hồ nước và đầm: Hồ Quan Sơn (Hà Tây), hồ Đồng Quan - Đền Sóc (Hà Nội), Đảo Cò Chi Lăng Nam (Hải Dương).
  • Nhóm đồi núi và thác rừng: Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Khoang Xanh (Ba Vì, Hà Tây).

4. Luận án vận dụng cơ sở lý thuyết đánh giá tài nguyên du lịch từ những trường phái và tác giả quốc tế tiêu biểu nào?
Luận án kế thừa phương pháp luận đánh giá kỹ thuật hai giai đoạn và bảng tiêu chí cảnh quan của L. Mukhina (1973 - Liên Xô); các chỉ tiêu tương phản địa hình của Iu. Vedenhin (1975); lý thuyết hệ thống du lịch gồm nơi đi - tuyến nối - nơi đến của Leiper (1990); phân loại du lịch cuối tuần là mắt xích chuyển tiếp giữa du lịch và giải trí của Lozato-Giotard (1987); cùng các nguyên lý quy hoạch du lịch vùng phụ cận của Baud-Bovy & Fred Lawson (1982) và Boniface & Cooper (1993).

5. Hạn chế nghiên cứu lớn nhất được tác giả nêu rõ trong phần kết luận luận án là gì?
Hạn chế lớn nhất là chưa tính toán được cụ thể các chỉ số về sức chứa du lịch (carrying capacity) cho từng điểm đến riêng lẻ. Tác giả khẳng định sức chứa du lịch là bài toán phức tạp, đòi hỏi phải tích hợp đồng thời cả sức chứa sinh thái, sức chứa tâm lý và sức chứa kinh tế, cần được tiếp tục giải quyết trong các nghiên cứu quy hoạch chi tiết tiếp theo.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hải đã giải quyết bài toán khoa học về đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội trong bối cảnh chế độ tuần làm việc 40 giờ bắt đầu đi vào thực tế. Bằng việc kết hợp phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (xử lý qua phần mềm SPSS) với phương pháp đánh giá kỹ thuật cảnh quan, công trình đã xác lập mối tương quan hữu cơ giữa điểm cấp khách (nội thành Hà Nội) và tám điểm tài nguyên phụ cận. Kết quả nghiên cứu khẳng định các điểm hồ nước và vùng đồi núi có cự ly dưới 80 km giữ vị trí ưu tiên hàng đầu cho loại hình du lịch cuối tuần, đồng thời đề xuất khung phân vùng không gian và hệ thống giải pháp liên kết vùng làm luận cứ tin cậy cho công tác quy hoạch phát triển bền vững.