CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Những khái niệm cơ bản về đất và sử dụng đất - Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp: Đất là một phần của vỏ trái đất, là lớp phủ trên bề mặt lục địa mà bên dưới là đá và khoáng vật, bên trên là thảm thực bì và khí quyển [6]. Đất là lớp mặt tươi xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ nhưỡng là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển.
Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản [6]. - Các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và qui hoạch Việt Nam cho rằng: “Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”. Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như một nhân tố sinh thái (FAO, 1976) [23]. Trên quan điểm nhìn nhận của FAO thì đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Như vậy, đất được hiểu như một tổng thể của nhiều yếu tố bao gồm: (khí hậu, địa mạo/địa hình, đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con người). Theo William đưa ra định nghĩa: “Đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng”. Theo quan điểm này đặc tính cơ bản nhất của đất là độ phì nhiêu, là khả năng cho sản phẩm. Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology) đất đai được coi là vật mang (Carrier) của hệ sinh thái (Eco-System).
Trong đánh giá phân hạng, đất đai được định nghĩa như sau: “Một vùng hay khoanh đất được xác định về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của Trái Đất với những thuộc tính ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kì có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c này có ảnh hưởng, có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con người hiện tại và trong tương lai”. Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình, thời gian và con người. Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35%. Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì (độ màu mỡ thích hợp trồng cây công nghiệp và lương thực).
- Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới cho rằng: Đất nông nghiệp là toàn bộ diện tích đất được xác định chủ yếu để sử dụng và sản xuất nông nghiêp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và nghiên cứu trong khoa học về nông nghiệp. - Chất lượng đất đai (land quality): Một thuộc tính của đất có ảnh hưởng tới tính bền vững đất đai đối với một kiểu sử dụng đất cụ thể như: đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa (loại đất), độ dốc (0-30; >3-80;…)…[28]. - Khái niệm đánh giá đất đai theo FAO: Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có [18]. - Sử dụng đất (land use): Đó là hoạt động tác động của con người vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng.
Trên thực tế có nhiều loại hình sử dụng đất chủ yếu như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ, đất trồng rừng, đất cảnh quan du lịch…, ngoài ra còn có đất sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng chủ yếu trên cùng một diện tích đất. Kiểu sử dụng đất có thể là trong hiện tại nhưng cũng có thể là trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học thay đổi. Trong mỗi kiểu sử dụng đất thường gắn với những đối tượng cây trồng hay vật nuôi cụ thể [18]. - Yêu cầu sử dụng đất đai (land use requirements - LUR) Những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai để đảm bảo cho mỗi loại sử dụng đất đưa vào đánh giá có thể phát triển một cách bền vững.
- Loại hình/kiểu sử dụng đất đai chính (major kind of land use): Phần chia nhỏ chủ yếu của sử dụng đất nông nghiệp như: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác. - Loại/kiểu sử dụng đất (land utilization type - LUT): Một loại sử dụng đất đai được miêu tả hay xác định theo mức độ chi tiết từ kiểu sử dụng đất chính. Loại sử dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c đất đai có liên quan tới mùa vụ, kết hợp mùa vụ hoặc hệ thống cây trồng với các phương thức quản lý và tưới xác định trong môi trường kỹ thuật và kinh tế - xã hội nhất định [18]. - Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những thuộc tính của các LUT và các yêu cầu sử dụng đất (LUR) của chúng, LUT được cụ thể hoá bằng kiểu sử dụng đất.
- Hệ thống sử dụng đất (Land Use System – LUS): Sự kết hợp của một loại sử dụng đất với một điều kiện đất đai riêng biệt tạo thành hai hợp phần khăng khít tác động lẫn nhau, từ các tương tác này sẽ quyết định các đặc trưng về mức độ và loại chi phí đầu tư; mức độ, loại cải tạo đất đai và năng suất, sản lượng của loại sử dụng đất. Lý luận chung về tiềm năng đất đai Theo Khoản 2 Điều 3 Thông tư 35/2014/TT-BTNMT thì tiềm năng đất đai là khả năng về số lượng, chất lượng đất cho mục đích sử dụng đất. Trong đó tiềm năng về số lượng là khả giảm dần diện tích đất chưa sử dụng ở mức độ tối đa nhằm khai thác để đưa vào các mục đích khác nhau, đáp ứng chocác yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tiềm năng về chất lượng đất đai là khả năng khai thác về chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất (thâm canh, tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng).
Để có thể khai thác tối đa tiềm năng về đất đai cần phải đầu tư cải tạo với thời gian dài, đó là mục tiêu chung. Quá trình sản xuất nông nghiệp liên quan chặt chẽ với các yếu tố tự nhiên như đặc điểm thổ nhưỡng, tính chất lý, hoá học của đất. Ngoài ra, hiệu quả đem lại từ việc bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng – vật nuôi, mùa vụ sản xuất. tạo ra các vùng chuyên canh sản xuất sản phẩm hàng hoá và nguyên liệu chế biến, đồng thời còn phụ thuộc vào các điều kiện khác như: chế độ nước, khả năng tưới tiêu, điều kiện địa hình, vị trí phân bố trong không gian, vốn, lao động.
Việc nghiên cứu tiềm năng đất đai thích hợp cho các loại hình sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp, nhằm bố trí cây trồng hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao và sử dụng đất bền vững. Quá trình nghiên cứu tiềm năng thích hợp đất đai được dựa trên cơ sở sau: - Xác định các khoanh đất, vùng đất (đơn vị đất đai) mà trong đó có sự đồng nhất tương đối của từng yếu tố tự nhiên và có sự phân biệt của một hay nhiều yếu tố tự nhiên so với vùng lân cận. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c - Xác định các loại hình sử dụng đất, trên cơ sở kết quả phân tích hiệu quả (về kinh tế, xã hội, môi trường) của từng hệ thống sử dụng đất, lựa chọn các hệ thống sử dụng đất chính để đánh giá khả năng thích hợp của đất đối với các hệ thống sử dụng đất được lựa chọn. - Xác định yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng trên cơ sở các chỉ tiêu, yếu tố đánh giá về điều kiện hạn chế được lựa chọn (điều kiện hạn chế của các chỉ tiêu, yếu tố đánh giá đối với từng loại hình sử dụng đất).
- Đối chiếu từng yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng với các đặc tính của đơn vị đất đai, từ đó xác định khả năng thích hợp của từng đơn vị đất đai. Lý luận chung về đánh giá tài nguyên đất đai phục vụ phát triển các loại hình sử dụng đất 1. Đánh giá tài nguyên đất đai Đánh giá tiềm năng đất đai là một bộ phận của công tác đánh giá tài nguyên môi trường tự nhiên mà bản chất chính là việc nghiên cứu, xem xét, xác định và phân loại giá trị (mức độ thuận lợi, thích nghi, phong phú) của loại tài nguyên này trên mỗi vùng lãnh thổ đối với một số yêu cầu KT-XH nhất định; từ đó có thể đưa ra những kiến nghị về khả năng khai thác và SDHL tài nguyên đất đai cho mục đích nào đó. Căn cứ vào mục đích cụ thể mà hoạt động đánh giá tài nguyên đất đai có thể được thực hiện ở từng giai đoạn từ thấp đến cao (hình 1.1): Đánh giá chung, Đánh giá mức độ thuận lợi (thích nghi) của tài nguyên đất đai đối với các hoạt động KT-XH, cụ thể ở đây là phát triển ngành nông, lâm nghiệp (NLN) với hệ thống cây trồng phù hợp với điều kiện, tài nguyên đất đai của từng địa phương; Đánh giá kinh tế kĩ thuật là giai đoạn cao nhất, đề cập chi tiết đến giá trị và hiệu quả kinh tế của các chủ thể được đánh giá.
Nhìn chung, mỗi giai đoạn đánh giá có những đặc trưng riêng, đòi hỏi phải có những phương pháp riêng và cho những kết quả khác nhau.