MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, do sự biến động của thị trƣờng tiêu thụ thủy sản của các nƣớc trên thế giới, sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động lớn đến sức mua của ngƣời dân. Chính vì vậy Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có chủ trƣơng tìm kiếm đối tƣợng thủy sinh có giá trị kinh tế cao để nuôi thƣơng phẩm phục vụ xuất khẩu và thị trƣờng nội địa. Trong đó hƣớng tìm kiếm thuỷ sinh vật ngoại lai có giá trị kinh tế đã đƣợc các doanh nghiệp, các cơ quan có chức năng chuyển giao công nghệ đề xuất đƣa vào tại Việt Nam. Việc đẩy mạnh xuất khẩu, nhập khẩu các giống cây, con đã tạo cho khu hệ động vật, thực vật đƣợc bổ sung phong phú, nhiều loài đã trở thành đối tƣợng nuôi, trồng kinh tế, tăng thu nhập và góp phần tăng trƣởng kinh tế cho đất nƣớc.
Riêng lĩnh vực thuỷ sản đã có nhiều giống đƣợc coi là có giá trị kinh tế nhƣ: cá Trắm cỏ, cá Mè trắng Trung quốc, cá Mè hoa, cá Rôhu, Mrigan, Rô phi vằn, Trê phi, Chép Hungari, Chép Indonesia.… nhiều đối tƣợng thuỷ sinh nhập nội đƣợc nuôi làm cảnh, làm thức ăn cho tôm cá [1, 2]. Hình thức nhập khẩu các loài ngoại lai dƣới nhiều dạng: nhập khẩu chính ngạch, qua con đƣờng tiểu ngạch, quà biếu, nhập để nghiên cứu khoa học nên khó kiểm soát, đặc biệt là nhập khẩu tự do qua tiểu ngạch sẽ không qua kiểm dịch, một số loài không rõ nguồn gốc, một số loài chƣa đƣợc xem xét kỹ lƣỡng về đặc tính sinh vật học nhƣng vẫn đƣợc cho phép nhập công nghệ nuôi…nên xảy ra tình trạng một số sinh vật lạ xâm lấn thoát ra ngoài tự nhiên phát triển, gây hậu quả nghiêm trọng về môi trƣờng sinh thái, thiệt hại về kinh tế. Trong số các loài thủy sinh ngoại lai nhập nội phổ biến hiện nay là loài tôm hùm nƣớc ngọt. Tôm hùm nƣớc ngọt (P.clarkii) có nguồn gốc ở Bắc Mỹ, đến nay đƣợc phân bố rộng rãi trên 20 quốc gia và khu vực thuộc 5 châu lục.
THNN là đối tƣợng nuôi của các nƣớc nhƣ: Mỹ, Úc, Anh, Thụy Điển, Phần 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lan, Na Uy, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc… và một số quốc gia khác [4]. Tuy nhiên, hiện nay việc quản lý các loài ngoại lai nhập nội nói chung và loài tôm hùm nƣớc ngọt nói riêng vẫn còn nhiều bất cập do vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau giữa các cơ quan quản lý, các nhà khoa học về đánh giá tác động của chúng lên đa dạng sinh học ở nƣớc và nguồn lợi thuỷ sản. Chính vì vậy chúng tôi tiền hành đề tài “Đánh giá tác động của loài tôm hùm nước ngọt (P.clarkii) nhập nội vào Việt Nam lên đa dạng thủy sinh vật”. Mục tiêu đề tài Nghiên cứu, tìm hiểu đặc tính sinh học, sinh thái và đánh giá tác động lên môi trƣờng thủy sinh vật của loài tôm hùm nƣớc ngọt đang đƣợc nuôi thử nghiệm tại một số tỉnh miền Bắc, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý thích hợp.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tình hình phát triển tôm hùm nƣớc ngọt trên thế giới và vấn đề môi trƣờng liên quan 1. Phân bố của tôm hùm nước ngọt Tôm hùm nƣớc ngọt phân bố tự nhiên ở Bắc Mỹ, hiện đã di nhập và phát triển mở rộng đến các châu lục nhƣ Châu Âu, Châu Phi và Châu Á. Là một loài giáp xác có khả năng phát triển đƣợc trong các đầm hồ tự nhiên có nhiều thực vật thủy sinh và mùn bã hữu cơ, có giá trị kinh tế và hiện đang đƣợc phát triển nuôi ở một số nƣớc trên thế giới [4]. Sản lượng và giá trị thương mại Năm 2000, tổng sản lƣợng THNN thƣơng mại khoảng trên 110.
Trong đó Mỹ chiếm 55%, Trung Quốc khoảng 35%, các nƣớc châu Âu chiếm 18% và châu Úc là 2% [4, 8, 15]. Trên thế giới THNN đã trở thành một mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu có giá trị cao, giá dao động từ một vài đô la đến hơn mƣời đô la Mỹ/ kilôgam. Australia năm 2001-2002 sản lƣợng THNN là 58 tấn, năm 2003 đạt 100 tấn. Năng suất tôm nuôi ở ruộng và ao đạt từ 1-3 tấn/ha/năm.
Tuy nhiên với nuôi bán thâm canh, và thâm canh năng suất có thể đạt 4 tấn/ha/năm thậm chí đạt 8 tấn/ha/năm [6]. Năm 1994 tại Trung và Nam Âu, giá trị sản phẩm từ tôm hùm nƣớc ngọt là 21 triệu USD, năm 2001 là 55 triệu USD. Miền nam Châu Âu, Tây Ban Nha sản lƣợng tôm hùm nƣớc ngọt khoảng từ 2. Năm 2005 bang Lousiana của Mỹ đã có khoảng 1.100 hộ nông dân nuôi THNN (P.clarkii) với diện tích trên 43.
Tôm có thể thu hoạch sau 3-5 tháng nuôi từ khi thả giống với kích cỡ 2 - 4 cm/con. Kích cỡ tôm thƣơng phẩm ≥ 20 gam/con. Năng suất tôm nuôi ở các ao mở, ruộng tối đa là 3.000 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kg/ha, trung bình khoảng 1. Sản lƣợng tôm hùm nƣớc ngọt của Mỹ năm 2005 đạt khoảng120.
Sản lƣợng THNN của Trung Quốc vào cuối những năm 1990 ƣớc tính khoảng 80 -100. Từ năm 2003 trở lại đây, sản lƣợng hàng năm ƣớc tính khoảng 350. Tôm hùm nƣớc ngọt không chỉ đƣợc nuôi trong ao mà còn đƣợc nuôi kết hợp với trồng lúa. THNN đƣợc bán với giá bán buôn là 0,75 đô la/kg và giá bán lẻ khoảng 0,83- 2,5 đô la/kg [4].
Trung Quốc là nƣớc xuất khẩu THNN lớn nhất thế giới. Thị trƣờng xuất khẩu chính là Mỹ. Năm 1997, Trung Quốc đã xuất khẩu 4.600 tấn tôm nõn tƣơng đƣơng 36.000 tấn tôm nguyên con. Mỹ đã đánh thuế nhập khẩu tôm này từ 92 - 201% trung bình là 123%, tuy nhiên việc xuất khẩu tôm từ Trung Quốc vào Mỹ ngày một tăng.
Từ năm 2003 Trung Quốc bắt đầu xuất khẩu sang thị trƣờng Châu Âu chủ yếu là Bắc Âu [4, 6, 8, 19, 21]. Sản lƣợng THNN Trung Quốc xuất khẩu chủ yếu là tôm thu từ đầm hồ tự nhiên. Sản lƣợng tôm hùm nƣớc ngọt nuôi của Trung Quốc chỉ chiếm 15 - 20% [4]. Về chất lƣợng sản phẩm, theo các tài liệu nghiên cứu đã công bố, về tỷ lệ thịt của tôm hùm nƣớc ngọt chiếm 20 - 30% thể trọng, trong đó phần thịt ở thân đuôi chiếm 15 - 18%.
Trong thịt tôm hùm nƣớc ngọt tính theo khối lƣợng tƣơi, hàm lƣợng protein chiếm 17,62%, lipid chiếm 0,29%, các axit amin chiếm 77,2% protein cơ thể. Do thịt thơm ngon, giàu dinh dƣỡng, là một loại thực phẩm sạch, giàu protein và ít lipid nên tôm hùm nƣớc ngọt đƣợc coi là một món ăn sang trọng quý hiếm của ngƣời dân Trung Quốc và đƣợc ƣa thích trên thị trƣờng quốc tế [4].Tình hình nuôi tôm hùm nước ngọt ở một số nước trên thế giới Theo W Ray McClain và Robert P.Romaire [21] có rất nhiều loài tôm hùm nƣớc ngọt phân bố tự nhiên trên các châu lục (trừ Châu Phi và Châu Nam 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Có khoảng 10 loài đƣợc khai thác thƣơng mại, trong đó có 6 loài là: Cherax quardicarinatus, C.zonangulus, Austropotamobius pallipep, P.clarkii đƣợc đánh giá là có hiệu quả kinh tế, đã di nhập và phát triển mở rộng ra tới 20 quốc gia trên thế giới. Tôm hùm nƣớc ngọt nhanh chóng đƣợc phát triển ở các nƣớc trên thế giới do nuôi đối tƣợng này không đòi hỏi kỹ thuật cao, sản phẩm có giá trị dinh dƣỡng và có giá trị thƣơng mại cao.Edgerton [8], một số nƣớc tiến hành nuôi loài tôm này với các hình thức nhƣ nuôi quảng canh ở những vùng nƣớc tự nhiên có nhiều thực vật thủy sinh, nuôi bán thâm canh, nuôi thâm canh hoặc chỉ nhập khẩu để chế biến, tiêu thụ.
trong đó nổi bật hai cƣờng quốc là Hoa Kỳ và Trung Quốc đã phát triển nuôi loài tôm hùm nƣớc ngọt P.clarkii có quy mô lớn và có các phƣơng thức nuôi trên những diện tích rộng lớn. Phát triển tôm hùm nước ngọt tại Louisiana (Hoa Kỳ) Tôm hùm nƣớc ngọt (P.clarkii) sống trong vùng giàu dinh dƣỡng ven sông Mississippi. Louisiana là địa danh có nghề khai thác tôm Hùm nƣớc ngọt, tuy nhiên việc khai thác tôm từ tự nhiên không ổn định nên việc nuôi tôm đƣợc hình thành sớm, xuất hiện từ thế kỷ 18. Diện tích đất dùng cho nuôi tôm hùm nƣớc ngọt đạt tới đỉnh cao vào năm 1987 là 52.
Do đặc điểm sinh học của loài dễ thích nghi với các điều kiện môi trƣờng, có khả năng sinh sản tự nhiên tạo quần đàn nhanh và có thị trƣờng khá rộng nên nhanh chóng đƣợc ngƣời nuôi chú trọng phát triển. Việc nuôi tôm hùm nƣớc ngọt dựa vào phƣơng pháp quảng canh, sử dụng ao đất, quần đàn con tự sinh sản. Loài tôm này sử dụng chuỗi thức ăn dựa vào thực vật là chính và là một loài ăn tạp nên dễ nuôi và dễ phát triển. Khoảng hơn 50 năm trở lại đây, sản lƣợng loài tôm hùm nƣớc ngọt của Mỹ đạt khoảng 50.000 tấn vào năm 1990 và đạt 120.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Phát triển tôm hùm nước ngọt tại Trung Quốc Tôm hùm nƣớc ngọt P.clarkii đƣợc du nhập từ Nhật Bản vào Trung Quốc từ những năm 30 của thế kỷ 20. Đến nay loài tôm này đã phát triển rộng rãi ở trên 26 tỉnh và khu vực của Trung Quốc. Nghề nuôi tôm hùm nƣớc ngọt đã đƣợc chính quyền và các nhà khoa học của Trung Quốc quan tâm phát triển do yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu sản phẩm và hiệu quả kinh tế của loài tôm này vƣợt xa các loài cá truyền thống. Trung Quốc có ƣu thế về diện tích rộng lớn trong đó có những khu vực đầm hồ rộng hàng chục đến hàng trăm ha có nhiều thực vật thủy sinh rất thích hợp cho sự phát triển nuôi quảng canh loài tôm hùm nƣớc ngọt.
Sau hàng chục năm phát triển đã hình thành đàn tôm tự nhiên có sản lƣợng khai thác đáng kể trong các sông hồ, đầm, trong đó vùng hạ lƣu sông Trƣờng Giang là vùng có sản lƣợng lớn nhất [3]. Ở Trung Quốc tôm hùm nƣớc ngọt đã, đang đƣợc nuôi rất phổ biến ở một số tỉnh nhƣ Hồ Bắc, Hồ Nam, An Huy, Sơn Đông, Triết Giang, Vân Nam, Đài Loan. Trong một vài năm gần đây thị trấn Tích Ngọc Khẩu, thuộc thành phố Xuân Giang tỉnh Hồ Bắc là một trong những điểm điển hình về nuôi tôm hùm nƣớc ngọt. Tôm hùm nƣớc ngọt không chỉ đƣợc nuôi trong ao mà còn đƣợc nuôi ở ruộng trũng.
Năm 2001, loài tôm này đƣợc nuôi thử nghiệm tại 1.000 mẫu ruộng trũng (01 mẫu Trung Quốc bằng 667 m2), năm 2002 là 2.000 mẫu và đến 2005 là 15.000 mẫu (tƣơng đƣơng 1.