phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và sinh kế của ngƣời dân - Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng của dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. - Chƣơng 3: Đánh giá tác động của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng của dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village tới sinh kế của ngƣời dân và giải pháp. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG VÀ SINH KẾ CỦA NGƢỜI DÂN 1. Cơ sở lý luận về vấn đề thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất và sinh kế 1.
Các khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Theo Luật đất đai 2013, các thuật ngữ về thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: + Thu hồi đất :“Thu hồi đất là việc Nhà nƣớc quyết định thu lại quyền sử dụng đất của ngƣời đƣợc Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của ngƣời sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. + Bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất: - Bồi thƣờng có nghiã là trả la ̣i tƣơng xƣ́ng giá tri ̣hoă ̣c công lao cho mô ̣t chủ thể nào đó bi ̣thiê ̣t ha ̣i vì mô ̣t hàn h vi của chủ thể khác. - Bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất: “Bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất là việc Nhà nƣớc trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho ngƣời sử dụng đất”( Điều 3, khoản 12) + Hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất: Là việc Nhà nƣớc giúp đỡ ngƣời có đất bị thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển (Điều 3, khoản 14) + Tái định cƣ: Theo đó tái định cƣ đƣợc hiểu là: Định cƣ lại; cụ thể hơn: Tái định cƣ là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trƣớc đây để sinh sống và làm ăn. Tái định cƣ bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nƣớc thu hồi hoặc trƣng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển.
+ Giá đất: Là số tiền tính trênmột đơn vị diện tích đất do Nhà nƣớc quy định hoặc đƣợc hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất + Giá trị quyền sử dụng đất: Là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định [26]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhu cầu thu hồi đất, giải phóng mặt bằng trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Đại hội XI (2011) với Cƣơng lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, coi phƣơng thức cơ bản số một là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng”. Nhƣ vậy là từ Đại hội IX đến nay, Đảng ta không chỉ gắn kết công nghiệp hóa với hiện đại hóa mà còn cho rằng con đƣờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta cần và có thể rút ngắn thời gian, phải gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trƣờng.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XII nhấn mạnh: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lƣợng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển… Trong quá trình triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển công nghiệp và dịch vụ, đòi hỏi quỹ đất khá lớn mà Nhà nƣớc cần thu hồi. Vì vậy, thu hồi đất, GPMB là việc cần thiết để thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH vì những lý do sau: - Thứ nhất, thu hồi đất để có mặt bằng xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc cho phát triển kinh tế xã hội - Thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng, thúc đẩy quá trình đô thị hóa. - Thu hồi đất để nâng cấp và xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh. Để phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị, không thể không thu hồi đất mà ngƣời dân đang sử dụng.
Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị là một yêu cầu phát triển khách quan của cả nƣớc nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng. Tuy nhiên, các dự án đó cũng tiềm ẩn nhiều thách thức lớn nhƣ việc thực hiện chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ cho nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp chƣa thỏa đáng; ở một số dự án, một số địa phƣơng thực hiện không thống nhất, không 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng bộ; vấn đề ổn định đời sống, ổn định sản xuất và tạo việc làm mới cho ngƣời bị thu hồi đất vẫn chƣa đƣợc giải quyết thỏa đáng; nơi tái định cƣ cho ngƣời bị thu hồi đất ở chƣa thực sự hợp lý. Tình trạng bất cập nêu trên đã gây nên tình trạng khiếu kiện phức tạp của ngƣời bị thu hồi đất, nhiều nơi đã tạo ra nguy cơ mất ổn định an ninh chính trị và an toàn xã hội, không đảm bảo tính bền vững xã hội trong quá trình phát triển. Trong những năm qua, chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ GPMB đã đi vào cuộc sống, tạo mặt bằng cho các dự án xây dựng ở Việt Nam, thu hút nguồn vốn đầu tƣ, tạo nguồn lực sản xuất, chuyển đổi cơ cấu, phát triển đô thị và đổi mới diện mạo đô thị, nông thôn.
Qua báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng tính đến năm 2010 có 757 dự án giải tỏa “treo” với tổng diện tích 19. Các địa phƣơng còn tồn tại nhiều dự án giải tỏa “treo” gồm: Bình Thuận 133 dự án, Đồng Nai 88 dự án, Quảng Ninh 56 dự án, Vĩnh Phúc 33 dự án, Bắc Ninh 32 dự án, Cao Bằng 35 dự án, Hƣng Yên 26 dự án, Quảng Nam 21 dự án, Kiên Giang 30 dự án và An Giang 26 dự án. Kết quả giải quyết BT-HT: cả nƣớc có 192 dự án (25,30%) với tổng diện tích đã giải quyết là 4. Bên cạnh đó còn có 148 dự án (19,55%) đang làm thủ tục giải quyết với tổng diện tích 1.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tƣớng Chính phủ trong thời gian qua các địa phƣơng đã tiến hành rà soát và có quyết định hủy bỏ 87 dự án đã thu hồi đất với tổng diện tích 1.087 ha, trong đó: Đồng Nai hủy bỏ 10 dự án (373,98 ha), Hƣng Yên hủy bỏ 7 dự án (66,64 ha), Hải Phòng hủy bỏ 10 dự án (50,30 ha), Bắc Ninh hủy bỏ 8 dự án (23,56%). Tuy nhiên vẫn còn tồn đọng tổng số 433 dự án giải tỏa “treo” với tổng diện tích 12.645 ha chƣa có hƣớng giải quyết. Về thu hồi đất: Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng năm 2012, sau gần 7 năm triển khai thực hiện Luật Đất đai, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn ha (trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế và thu hồi 50.481 tổ chức và 598 hộ gia đình, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai. Những tỉnh thu hồi nhiều đất do 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vi phạm pháp luật về đất đai nhƣ: Bình Phƣớc 6.070 ha, Phú Yên 5.813 ha, Đắk Nông 5.791 ha, Quảng Nam 5.217 ha, Gia Lai 2.719 ha, Quảng Ninh 2.245 ha, Khánh Hòa 604 ha, Hà Nội 594 ha.
- Việc thu hồi đất, bồi thƣờng hỗ trợ giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án vẫn là một trong những vấn đề nổi cộm ở nhiều địa phƣơng, làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tƣ, gây bức xúc cho cả ngƣời sử dụng đất, nhà đầu tƣ và chính quyền nơi có đất thu hồi do các nguyên nhân sau: - Việc thực hiện cơ chế tự thỏa thuận đã tạo điều kiện cho nhà đầu tƣ chủ động quỹ đất thực hiện dự án, rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng, hạn chế khiếu kiện, đồng thời giảm tải cho các cơ quan hành chính nhà nƣớc các cấp trong việc thu hồi đất. Tuy nhiên, đã tạo ra sự chênh lệch lớn về giá đất so với dự án do Nhà nƣớc thu hồi trong cùng khu vực. Nhiều địa phƣơng còn áp dụng cơ chế này đối với những dự án lớn (diện tích đất và số hộ dân bị thu hồi lớn), nên nhà đầu tƣ rất khó có thể hoàn thành việc giải phóng mặt bằng do một số ngƣời có đất nằm trong khu vực dự án không hợp tác với nhà đầu tƣ, không bảo đảm thực hiện dự án theo đúng tiến độ và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Việc lập phƣơng án bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ trƣớc khi có quyết định thu hồi đất nên khó khăn trong thực hiện nhất là đối với trƣờng hợp ngƣời bị thu hồi đất không hợp tác để thực hiện đo đạc, kiểm đếm.
Chƣa quy định việc sử dụng tƣ vấn giá đất, giải quyết khiếu nại về giá đất và cơ chế bắt buộc để đảm bảo có quỹ đất, có nguồn vốn xây dựng khu tái định cƣ trƣớc khi thu hồi đất. - Các quy định về bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ thƣờng xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của ngƣời có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhƣng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm. - Giá đất bồi thƣờng chủ yếu thực hiện theo bảng giá nên còn thấp so với giá đất thị trƣờng; còn tình trạng không thống nhất về cơ chế bồi thƣờng giữa các dự án đầu tƣ có nguồn vốn trong nƣớc và dự án từ vốn vay của các ngân hàng nƣớc ngoài (ADB, WB).