Chương 1 TỎNG QUAN 1. Dat đai, quyền sử dụng đất; quản lý Nhà nước về dat đai và van đề thu hồi đất 1. Dat đai và quyền sử dung dat 1. Đất đai Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thắng đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyền, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, điện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thé nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vat với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của loài người (Đặng Thái Sơn, 2002).
Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vi trí, điện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ôn định hoặc thay đôi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thô nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012). Quyền sử dụng đất Luật Dat dai năm 2013, quy định “Dat đai thuộc sở hữu toàn dân do Nha nước đại điện chủ sở hữu và thống nhất quan lý”. Do không thé có cơ chế dé toàn dân thực hiện tất cả các quyền chủ sở hữu mà quyền năng chủ sở hữu đối với đất đai được thực hiện thông qua vai trò của Nhà nước. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu quyền sử dụng đất thông qua việc ban hành chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sử dụng dat.
Do dat đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất nên người sử dụng đất chỉ có quyền chuyền giao quyền sử dụng đất được Nhà nước giao cho trên cơ sở pháp luật. Quyền của người sử dụng đất được pháp luật về đất đai hoàn thiện qua các giai đoạn, đến khi Luật Đất đai năm 2013 ra đời, người sử dụng đất có các quyền chung bao gồm: Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bô đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất (Lưu Minh Thanh, 2012). Quản lý Nhà nước về đất đai và vấn đề thu hồi đất 1. Quản lý Nhà nước về đất đai Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bào gồm: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó; Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đât, quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liên với đât; Thống kê, kiểm kê đất đai; Xây dựng hệ thống thông tin đất đai; Quản lý tài chính về đất đai và giá đất; Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; Phổ biến, giáo dục pháp luật về dat đai; Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, t6 cáo trong quản lý và sử dụng đất dai; Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Vấn đề thu hồi đất Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Quốc Hội, 2013). Tại khoản 11, Điều 4 của Luật Dat đai năm 2013 đã quy định: “Nha nước thu hồi đất là việc Nha nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nha nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại dat của người sử dụng dat vi phạm pháp luật về đất đai” (Quốc Hội, 2013). Từ những nghiên cứu trên, có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi đất như sau: “Thu hôi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính dé thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai”. Từ cách hiểu này, có thể đưa ra khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp như sau: “Thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất nông nghiệp và quyền sử dung đất nông nghiệp đã giao cho các chủ thé sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai”.
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Các khái niệm Bồi thường: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Đào Trung Chính, 2014). Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (Đào Trung Chính, 2014). Hỗ trợ: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua dao tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí dé di dời đến địa điểm mới (Đào Trung Chính, 2014).
Tái định cư: Tái định cư là biện pháp nhằm ổn định, khôi phục đời sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án của Nhà nước, khi mà phần đất nơi ở cũ bị thu hồi hết hoặc thu hồi một phần mà phan còn lại không đủ điều kiện dé tiếp tục sinh sông, phải di chuyển đến nơi khác. Như vậy, nó bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất và theo nghĩa hẹp đó chính là quá trình di đời người dân đến một nơi ở mới (Đào Trung Chính, 2014). Vậy có thê thấy bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tiến đến thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi đất hiện nay không chỉ đơn thuần là việc bồi thường trả lại về giá trị vật chất mà còn đảm bảo lợi ích chính đáng cho người có đất bị thu hồi. Nhà nước sẽ đảm bao cho họ có một cuộc sống mới ổn định, một điều kiện sống tốt hơn hoặc ít nhất bằng với điều kiện sống nơi ở cũ, hỗ trợ chuyên đối nghề nghiệp và tạo việc làm.
dé họ yên tâm sinh sống, sản xuất, làm việc và công hiến cho xã hội ngày càng tốt hơn. Bồi thường về dat và tài sản gắn liền với dat 1. Bồi thường về đất Đất đai là tài sản lớn và quan trọng nhất của mỗi người dân, khi bị nhà nước thu hồi sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống, công việc của họ (Nguyễn Vinh Diện, 2006). Tại Điều 74 Luật đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau: - Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
- Việc bồi thường được thực hiện bằng VIỆC giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất dé bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thê của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi dat. - Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật". Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất của được bồi thường: - Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê dat hàng năm có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng dat ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp. - Cộng đồng dân cư cơ sở tôn giáo tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.