Chương 1: Một số vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chương 3: Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng. 8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1.
Khái niệm, mục đích, yêu cầu và các điều kiện bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất 1.1 Khái niệm bồi thường, hỗ trợ Để có cách hiểu toàn diện và sâu sắc thuật ngữ “bồi thường”, cụm từ “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” ta cần phải xem xét, nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau. Trong đời sống thực tiễn, “bồi thường” được sử dụng trong trường hợp một người nào đó có hành vi gây thiệt hại cho một người khác phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do hành vi của mình gây ra [11]. Hình thức bồi thường có thể là vô hình (xin lỗi) hoặc hữu hình (bồi thường bằng tiền hoặc bằng hiện vật khác). Việc bồi thường có thể do các quy định của pháp luật điều chỉnh hoặc do chính sự thỏa thuận giữa các bên.
Riêng lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ “bồi thường” khi nhà nước thu hồi đất được ghi nhận từ rất sớm. Tại Nghị định 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương II đã đề cập việc “bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. Tiếp theo, Luật đất đai năm 1987 thuật ngữ “đền bù” được sử dụng thay cho thuật ngữ “bồi thường”. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001, tại Điều 1, Khoản 9 (sửa đổi, bổ sung Điều 27, Luật Đất đai năm 1993), thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại và thay thế thuật ngữ “đền bù”.
Thuật ngữ “bồi thường” tiếp tục được sử dụng tại Luật đất đai năm 2003 và 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2013. 9 Đề cập khái niệm này Khoản 12, Điều 3, Luật đất đai năm 2013 đưa ra cách giải thích như sau: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người sử dụng đất”. [17] Như vậy, bồi thường khi nhà nước thu hồi đất chỉ diễn ra khi Nhà nước thu hồi một diện tích đất nào đó vì lợi ích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Thực chất, đây chính là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với người bị thu hồi đất và nhà đầu tư.
Do đó, việc bồi thường khi khi nhà nước thu hồi đất phải thực hiện theo quy định của Nhà nước về giá đất; về điều kiện, trình tự, thủ tục và nguyên tắc thực hiện. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, việc bồi thường khi khi nhà nước thu hồi đất không giống với việc bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực pháp luật dân sự, hình sự, lao động. Bởi lẽ, nó không những phải đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất, mà còn phải đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người nhận lại quyền sử dụng đất sau khi thu hồi. “Hỗ trợ” là việc khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có chính sách giúp đỡ, tạo điều kiện cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống sản xuất, vượt qua khó khăn khi bị thu hồi đất.
Các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất bao gồm: hỗ trợ ổn định đời sống sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở; hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất; hỗ trợ khác [17, tr.2 Mục đích và yêu cầu của bồi thường, hỗ trợ Hoạt động bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề phức tạp, vừa mang tính chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, vừa mang tính thời sự cấp bách. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất những năm qua trên cả nước bước đầu đã tạo ra nhiều đổi mới cho khu vực nông thôn, khu vực đô thị, ven đô thị như: Tạo bước chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, ngành nghề, thu hút đầu tư. góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế, xã hội của địa phương, của vùng và cả nước. Tuy nhiên, việc bồi thường thời gian qua đã gặp không ít khó khăn do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan, vì vậy, việc bồi thường, hỗ trợ của nhà nước những năm qua vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và đã gây ra nhiều khiếu nại, khiếu kiện, bất ổn định về xã hội và tình hình trật tự trong cả nước.
Đặc biệt khi các cơ quan nhà nước thực hiện áp dụng giá bồi thường và chính sách hỗ trợ chưa thống nhất trong cả nước nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư, nhất là trong việc bồi thường về giá đất tại địa phương. Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được xem xét trên cơ sở hàng loạt các yếu tố về cơ chế, pháp luật và con người, cùng những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác thu hồi đất của các cấp, các ngành. Đây cũng sẽ là cơ hội cho các nhà chuyên môn, các nhà lãnh đạo địa phương nâng cao khả năng sắp xếp lại dân cư, xây dựng kết cấu hạ tầng, tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, góp phần thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn địa phương. Các điều kiện bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 1.
Điều kiện để được bồi thường Theo quy định tại Điều 75 Luật đất đai, người bị Nhà nước thu hồi đất có một trong những điều kiện sau đây thì được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: 11 - Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Pháp luật đất đai. - Có quyết định giao đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai. - Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, trị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây: Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai bao gồm: giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ Địa chính; Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất [17] - Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong những loại giấy tờ quy định được kể trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển nhượng sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp. 12 - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nới có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định như đã kể trên nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh chấp. - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất theo bản án hoặc quy định của tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành. - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ kể trên nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến thời điểm có quyết định thu hồi đất, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch; không vi phạm hành lang bảo vệ các công trình, được cấp có thẩm quyển phê duyệt đã công bố công khai, cắm mốc, không phải là đất lấn chiếm trái phép và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp.