MỞ ĐẦU Việt Nam là một quốc gia biển đang phát triển và được coi là một trong 16 trung tâm đa dạng sinh học trên thế giới, giầu tài nguyên chính vì vậy biển nước ta chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Biển nước ta có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế do những giá trị nguồn lợi hải sản mang lại. Một số khu bảo tồn biển (KBTB) như Bạch Long Vỹ, Phú Qúy, Phú Quốc, Côn Đảo… được đánh giá là một trong những vùng biển ở Việt Nam có mức độ đa dạng sinh học cao, có hệ sinh thái san hô phát triển tốt là nơi sinh cư của nhiều loài sinh vật biển. Trong hệ sinh thái rạn san hô, cá rạn san hô được đánh giá có tính đa dạng cao nhất trong số động vật có xương sống, không những có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị kinh tế cao và tiềm năng phát triển cho du lịch sinh thái như lặn ngầm, thăm xem cảnh quan dưới nước.
Những năm gần đây vấn đề bảo vệ tài nguyên biển nước ta đang đối mặt với những khó khăn và thách thức. Nguồn lợi cá rạn xung quanh đảo Bạch Long Vỹ đang có xu hướng suy giảm nhanh chóng, phải chịu nhiều tiêu cực từ con người (khai thác, du lịch, ô nhiễm…) và tự nhiên (sóng, gia tăng nhiệt độ nước biển…). Sự phát triển kinh tế huyện đảo, xây dựng cơ sở hạ tầng, thay đổi nhanh chóng mục đích sử dụng đất, các hệ sinh thái, những tác động của việc khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản đã tạo sức ép lên môi trường sinh thái. Tất cả những vấn đề đó nếu không được quản lý chặt chẽ thì có thể dẫn đến mất nơi cư trú của nhiều loài cá rạn, mất cân bằng sinh thái, gây suy giàm môi trường và phát triển không bền vững.
Trên thực tế mặc dầu công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở Việt Nam nói chung và BLV nói riêng được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm song về cơ bản, nội dung nghiên cứu lại chủ yếu tập trung cấu trúc, sinh thái, thành phần loài, phân bố cá rạn san hô. Ngoài ra là đánh giá biến động nguồn lợi, trữ lượng và khả năng khai thác của các loài hải sản nói chung và đặc điểm sinh học đặc trưng của một số loài hải sản thường gặp, xây dựng phân bố không gian năng suất đánh bắt chung và năng suất đánh bắt theo một số loài, nhóm loài cho nên việc nghiên 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu thực trạng diễn biến điều kiện môi trường và ảnh hưởng của nó tới biến động nguồn lợi hải sản lại thường được tiến hành một cách lồng ghép, gián đoạn. Chính vì vậy song song với nghiên cứu nguồn lợi hải sản cũng như nguồn lợi cá rạn thì việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và tìm hiểu sự biến động không gian và thời gian các yếu tố môi trường và xem xét mối quan hệ, sự ảnh hưởng của môi trường cùng với hoạt động khai thác tới nguồn lợi cá rạn san hô ở đảo Bạch Long Vỹ là một trong những nhiệm vụ quan trọng luôn được qua tâm. Xuất phát từ thực tiễn đó luận văn đã sử dụng chuỗi số liệu liên tục, đồng bộ quan trắc được từ năm 2006 đến năm 2015 để “Đánh giá ảnh hưởng môi trường và hoạt động khai thác tới nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển ven đảo Bạch Long Vỹ” nhằm góp phần cung cấp tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu và làm cơ sở khoa học phục vụ nhu cầu khai thác sử dụng, mục tiêu bảo vệ bền vững nguồn lợi.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên, môi trƣờng vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ 1. Điều kiện tự nhiên vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ a. Vị trí địa lý Bạch Long Vỹ là một trong 8 ngư trường lớn trong Vịnh Bắc Bộ với tọa độ địa lý 20o07'35'' và 20o08'36'' vĩ độ Bắc; 107o42'20'' - 107o44'15'' kinh độ Đông.
Với vị trí ở giữa Vịnh (cách Hòn Dáu - Hải Phòng 110 km, cách đảo Hạ Mai 70 km, cách mũi Ta Chiao - Hải Nam 130 km) cho nên đảo có vị trí quan trọng trong việc mở rộng vùng biển và phân định Vịnh Bắc Bộ. Mặt khác, có ý nghĩa quan trọng về mặt chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế [4, 13, 16]. Địa hình, địa mạo Đảo Bạch Long Vỹ hình tam giác chu vi dài khoảng 6,5km (theo đường bình độ 0m); chiều dài nhất theo hướng Đông Bắc – Tây Nam khoảng 3km, đường bờ theo hướng Đông Bắc – Đông Nam dài khoảng 2km và đường bờ theo hướng Đông Nam – Tây Nam dài khoảng 1,5km. Diện tích đảo nổi khoảng 2,5km2 (nếu tính cả phần bãi ngập triều tới mép thềm đá thì đảo rộng tới 4km2).
Hình thái đảo Bạch Long Vỹ chủ yếu tạo bởi quá trình địa chất ngoại sinh – phong hóa, xâm thực – bóc mòn và tích tụ. Đồng thời, với quá trình xâm thực – rửa trôi bề mặt, bóc mòn đỉnh và sườn đảo là quá trình xâm thực – mài mòn bờ đảo do sóng và dòng chảy [4]. Theo Đỗ Văn Khương, 2010 tổng quan: Địa hình đảo Bạch Long Vỹ khá thoải trong đó diện tích đất dốc nhỏ hơn 50 chiếm 62,5%, diện tích còn lại phần lớn là đất có độ dốc 150, các đường dốc phân cách với nhau bằng các sườn và vách dốc hẹp. Đỉnh cao nhất của đảo là được ghi nhận là 62,33m và trung bình là 25m.
Với bề mặt khá phẳng (chiều dài 300m, chiều rộng 100m) cho nên Đảo BLV rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình và nhà ở [12]. Theo Nguyễn Đức Cự và ctv, 2006 nhận định: Đảo Bạch Long Vỹ là một dải đồi nhô lên từ mặt bằng đáy biển ở độ sâu 30m nước, chu vi khoảng 6,5km. Địa hình đảo chia làm 3 nhóm: nhóm địa hình nguồn gốc biển, nhóm địa hình nguồn gốc gió và nhóm địa hình nguồn gốc bóc mòn - tích tụ. Nhóm địa hình nguồn gốc 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biển gồm bãi cát biển, thềm mài mòn - tích tụ, thềm biển bậc I, II, III tích tụ - mài mòn.
Nhóm địa hình nguồn gốc gió gồm địa hình thổi mòn - tích tụ đụn cát, trảng cát và sườn cát. Nhóm địa hình nguồn gốc bóc mòn gồm sườn tích tụ deluvi - coluvi, sườn bóc mòn tổng hợp và bề mặt xâm thực - bóc mòn [2]. Nguyễn Chu Hồi và ctv, 1995 nhận xét: Tổng diện tích đảo BLV ước tính trên 3km2 (tính từ 0m nước), một số tài liệu khác nghiên cứu khác chỉ ra diện tích đảo nổi là 2,1km2 hoặc 2,5km2. Đảo được hình thành từ các loại đất, đá trầm tích (cuội kết, đá kết và bột kết xen kẽ).
Các loại đất trên đảo có độ dày 15 – 20cm. Các loại đất gồm đất cát, đất tràng cát, đất Feralit, đất xám, xám sáng, đất xói mòn trơ sỏi có độ phì thấp và đang bị xói mòn [8]. Bờ đảo và vùng triều: 60% diện tích vùng bờ được hình thành từ đá cuội kết, khoảng 40% cấu tạo từ cát, cuội, sỏi. Bờ biển khá thoải, các đoạn có các vách dốc cao 1- 2m thường là bồi tụ đang bị sóng biển xói lở.
Bãi cát biển thoải rộng 15 – 30m chỉ gặp ở một số đoạn bờ phía Tây Bắc bến tàu cũ [12]. Vùng bãi ngập triều quanh đảo gồm bãi triều cao và bãi triểu thấp có diện tích là 1,3km2. Vùng bãi triều cao diện tích 0,474km2, vùng bãi triều thấp là 0,721km2 và bãi biển ngập triều rộng 0,078km2. Phần lớn bãi ngập triều cao chủ yếu hình thành từ đá cuội gốc và bãi cuội tảng.
Bãi ngập triều hầu như là thềm đá gốc, cuội tảng có ở một vài chỗ. Đáy biển và ven đảo: Diện tích vùng nước nông ven đảo có độ sâu từ 6m nước trở vào đến mực triều thấp nhất có diện tích rộng khoảng 4,27 km2. Bậc địa hình từ độ sâu 0 – 6m chủ yếu là đá gốc, bề mặt có độ dốc từ 1 – 20. Khoảng độ sâu từ 6 – 10m có bề mặt khá bằng phẳng, có độ dốc 10, rộng gần 1km2.
Khoảng độ sâu từ 10 – 30m nước là một sườn cổ khá dốc, cấu tạo từ đá cuội, sỏi, cát và đá gốc. Ngoài độ sâu 30m là đồng bằng đáy vịnh với đường bờ cổ, đồi đá gốc độ sâu tương đối khoảng từ 5-10m và các thung lũng sông có hướng Tây Bắc- Đông Nam và các điểm lộ đá gốc Đệ tam [13]. Khí tượng thủy văn 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoàn lưu khí quyển và chế độ gió: Thời tiết và khí hậu ở vùng này có tính biển động thường xuyên do sự luân phiên tranh chấp của các khối không khí có bản chất khác nhau. Nằm trong trung tâm Vịnh Bắc Bộ vì vậy đảo Bạch Long Vỹ mang những đặc điểm khí hậu chung của vùng đồng bằng Bắc Bộ và đặc điểm riêng vùng biển xa bờ, một năm có hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng 8 thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều chịu tác động của gió mùa Tây Nam, hướng gió chủ đào là Nam và Đông Nam với tần suất là 74 - 88%, tốc độ trung bình là 5,9 – 7,7m/s. Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh khô và ít mưa hướng gió thịnh hành là Bắc và Đông Bắc, chiếm tần suất là 86 - 94%, tốc độ gió trung bình là 6,5 -8,2m/s. Tháng 4 và tháng 9 là các tháng chuyển tiếp giữa hai mùa [13]. Nhiệt độ và độ ẩm không khí: Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,3oC, cao nhất tuyệt đối 33,9oC, thấp nhất tuyệt đối là 7,0 oC, cao vào các tháng 6, tháng 7 và tháng 8 (trên 28oC, cao nhất 28,7 oC vào tháng 7) và thấp vào các tháng 1 và 2 (16,6 - 16,8oC).
Biên độ nhiệt năm dao động 9,6 oC - 13,8 oC. Biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ, thường không quá 5oC. Độ ẩm không khí trung bình 86%, lớn nhất 92% vào tháng 3 và 4 và nhỏ nhất là 69% vào tháng 11. Nắng và bức xạ nhiệt: Hàng năm tổng số giờ nắng là 1600 - 1900 giờ nắng và được phân bổ khá đều, Nắng nhiều hơn vào cuối mùa hè và đầu mùa thu, ít nắng vào tháng 2 và tháng 3 đây là thời điểm có mưa phùn và dộ ẩm cao.
Tổng lượng bức xạ năm đạt 132,5 Kcal/cm2 và cao hơn các đảo ven bờ.