Chương 1. Tổng quan đánh giá tác động môi trường và pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam Chương 2. Thực trạng pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam Chương 3. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam Bằng vốn kiến thức đã được trang bị ở nhà trường, nỗ lực của bản thân, kinh nghiệm thực tiễn và sự chỉ dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, Tiến Sỹ Vũ Quang, tôi không có tham vọng đưa ra được những giải pháp và phương hướng tối ưu để hoàn thiện pháp luật về ĐTM trong các hoạt động đầu tư ở Việt Nam hiện nay, nhưng mong muốn góp phần tạo cơ sở bước đầu cho việc hoàn thiện pháp luật về ĐTM trong thời gian tới.
Ngoài ra, những nghiên cứu công phu của người viết ở một chừng mực nhất định có thể khẳng định rằng đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ ở cấp độ một Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật về ĐTM trong các hoạt động đầu tư ở Việt Nam. Do đó, nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƢỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ Ở VIỆT NAM 1. Khái quát chung về đánh giá tác động môi trƣờng 1.
Sự ra đời và phát triển của chế định đánh giá tác động môi trƣờng trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Ngay từ thời nguyên thủy, con người đã có những hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên làm thành những vật phẩm cần thiết cho mình và cũng đã biết bảo vệ thiên nhiên ở một mức độ nhất định. Điều này thể hiện ở các hoạt động bảo vệ rừng mà phần nhiều gắn với tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng. Chẳng hạn như việc quy định các khu rừng thiêng, rừng cấm, trong rừng cấm có khi còn có cả đền thờ, miếu thờ và những câu chuyện truyền thuyết về tính linh thiêng của rừng làm cho việc cấm trở nên rất nghiêm ngặt.
Việc tôn thờ một số loài vật (tín ngưỡng tô tem) thực chất là những hành vi được người xưa thực hiện nhằm BVMT sống của mình [6, 22]. Hiện nay, trong thời kỳ công nghiệp con người đã tăng cường khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Điều này cũng đồng nghĩa với việc con người đã tác động tới môi trường, thiên nhiên nhiều hơn trước. Tác động đến môi trường tạo ra những thay đổi về chất lượng, biến đổi sự phân bố các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tố chất lượng môi trường.
Những tác động đó có thể tích cực nhưng cũng có thể tiêu cực. Chính vì thế con người cần phải xem xét để tìm ra cũng như để dự liệu được những tác động nào là tiêu cực để hạn chế. Đòi hỏi này của thực tiễn đã dẫn đến sự hình thành nên khái niệm ĐTM. Vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước, người dân tại các nước công nghiệp phát triển quan tâm sâu sắc hơn tới nhân tố chất lượng môi trường.
Những nguy cơ về thảm họa môi trường do sự phát triển công nghiệp mang 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại đã biến mối quan tâm về môi trường thành những vấn đề chính trị rất quan trọng tại nhiều quốc gia. Chính phủ nhiều nước phải đề ra những đường lối, chính sách cụ thể về môi trường. Việc cần thiết phải đánh giá toàn diện những hậu quả kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình thực hiện những dự án phát triển đã trở thành những nghĩa vụ pháp lý. Chính vì vậy, thuật ngữ ĐTM đã xuất hiện trong chính sách và luật pháp môi trường của một số nước [23].
Hoa kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới chính thức đưa khái niệm ĐTM vào trong pháp luật môi trường của nước mình. Năm 1970, Hoa kỳ thông qua Luật về chính sách môi trường quốc gia, trong đó yêu cầu phải tiến hành ĐTM đối với các hoạt động ở cấp liên bang có khả năng ảnh hưởng nhiều tới chất lượng môi trường sống của con người. Ngay sau đó, khái niệm ĐTM đã lan rộng sang nhiều hệ thống pháp luật khác như Anh, Đức và phần lớn các nước Bắc Âu [23]. Năm 1973 và 1977, các Bộ trưởng Bộ môi trường các nước thành viên EC đã nhóm họp để xem xét về chương trình hành động môi trường của Cộng đồng.
Ngày 27/6/1985 EC ra Hướng dẫn 85/337/EC về ĐTM như là bước thực hiện những thỏa thuận đạt được tại các kỳ họp trên. Các nước thuộc cộng đồng châu Âu đã yêu cầu đáp ứng các quy định của hướng dẫn trên. Theo hướng dẫn của EC thì ĐTM là việc xác định, mô tả và đánh giá các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp của dự án tới con người, hệ động, thực vật, đất, nước, không khí… cũng như sự tác động qua lại lẫn nhau của các yếu tố này. Ngoài ra, các tổ chức tài chính quốc tế cũng tích cực thúc đẩy việc tiến hành ĐTM tại các nước thành viên.
Chẳng hạn như Ngân hàng phát triển châu Á đã ban hành một loạt các hướng dẫn về xét duyệt ĐTM cho các dự án về nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên, về công trình xây dựng cơ bản. Năm 1989, Ngân hàng thế giới lần đầu tiên ban hành chỉ thị hành động về ĐTM. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo chỉ thị này, tất cả các dự án có sử dụng vốn của Ngân hàng thế giới đều phải tiến hành ĐTM. Chỉ thị này đã phát huy tác dụng ngay sau khi nó ra đời.
Theo tư liệu của UNEP cho thấy, tính đến năm 1985, có tới 3/4 các nước phát triển đã có quy định về ĐTM ở những mức độ khác nhau hoặc ít nhất cũng đã hoàn thành báo cáo về ĐTM. ĐTM cũng đã được hầu hết các nước trong khu vực chính thức đưa vào pháp luật môi trường từ những năm đầu của thập kỷ 90 của thể kỷ XX. Tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, quá trình xem xét tác động của một hoạt động tới môi trường thường được gọi là quá trình “Đánh giá sinh thái” cũng đã được chính phủ quan tâm sâu sắc. Do đặc thù của nền kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa có sự quản lý cao của nhà nước nên các đề án và chương trình phát triển đều được xem xét chặt chẽ về nhiều mặt, trong đó có các nội dung về BVMT.
Việc kết hợp chặt chẽ quá trình xem xét về khía cạnh môi trường với kế hoạch hóa phát triển kinh tế, quy hoạch và thiết kế các công trình tạo nên những thuận lợi lớn cho bảo vệ tài nguyên và môi trường (sau đây viết tắt là TN&MT). Tuy nhiên, sự kết hợp đó nhiều khi cũng có thể mang lại những bất lợi cho việc xem xét, cân nhắc các nội dung BVMT. Do yêu cầu của tăng trưởng kinh tế cho nên việc xét duyệt các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật, xã hội thường lấn ất khía cạnh môi trường. Không những thế, nhiều trường hợp, quá trình ĐTM chỉ được thực hiện khi dự án hoặc đã được quyết định hoặc đã đi vào hoạt động.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận những đóng góp to lớn tới môi trường toàn cầu của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây qua việc thực hiện ĐTM [23]. Ở Việt Nam Với tư cách là quốc gia đang phát triển, Việt Nam đang đứng trước những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện chính sách BVMT. Theo Điều 17 Hiến pháp năm 1992, thì rừng núi, sông ngòi, đất đai và các tài 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên thiên nhiên khác ở nước ta đều thuộc sở hữu toàn dân nên việc thực hiện chính sách thống nhất, những biện pháp khẩn cấp để BVMT có cơ sở pháp lý khá vững chắc. Ngày 27/12/1993, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật BVMT đã tạo nên bước ngoặt quan trọng trong công tác BVMT ở Việt Nam.
Luật này đã quy định các tổ chức và cá nhân khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo pháp luật Việt Nam phải thực hiện ĐTM dưới các hình thức khác nhau. Qua hơn 12 năm thực hiện, các quy định của Luật BVMT năm 1993 nói chung, các quy định về ĐTM nói riêng đã góp phần rất lớn vào công cuộc BVMT, phát triển bền vững đất nước. Đã có hàng nghìn dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện trách nhiệm lập báo cáo ĐTM, qua đó đã đề ra và thực hiện những giải pháp thiết thực về BVMT, trong đó có những dự án quan trọng cấp quốc gia như dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh, dự án xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La… [22] Để khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật về môi trường, ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật BVMT (sửa đổi) có nội dung phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Trong đó, khẳng định yêu cầu thực hiện ĐTM đối với các dự án đầu tư.
Từ đây pháp luật về ĐTM trong hoạt động đầu tư đã dần đi vào ổn định và hoàn thiện hơn. Khái niệm đánh giá tác động môi trƣờng Trên thế giới, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về ĐTM. Tuy những định nghĩa này có điểm khác nhau về diễn đạt nhưng về nội dung cơ bản thì thống nhất với nhau, điển hình như: Định nghĩa của Munn (1979), theo đó ĐTM cần phải “phát hiện và dự đoán những tác động đối với môi trường cũng như đối với sức khoẻ và sự thịnh vượng của con người, của các đề xuất, các chính sách, chương trình, dự 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com án, quy trình hoạt động và cần phải “chuyển giao và công bố những thông tin về các tác động đó” [6]. Định nghĩa của Clark, Brian D., 1980: “ĐTM là sự xem xét một cách có hệ thống các hậu quả về môi trường của các đề án, chính sách và chương trình với mục đích chính là cung cấp cho người ra quyết định một bản liệt kê và tính toán các tác động mà các phương án hành động khác nhau có thể đem lại” [6].
Định nghĩa của Ahmad, Yusuf., 1985: “ĐTM nghiên cứu các hậu quả tới môi trường của một hành động được đề nghị.