Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Bước đầu tìm hiểu việc đánh giá tác động môi trường do các hoạt động khai thác tài nguyên tỉnh Bình Phước" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Khánh Ly dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Tấn Viện tại Bộ môn Địa lý Tự nhiên, Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (bảo vệ tháng 5/2004).

Về bối cảnh thực tiễn, nghiên cứu xuất phát từ thực trạng suy thoái môi trường dưới áp lực gia tăng dân số, đô thị hóa và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam. Sự phát triển kinh tế thiếu kiểm soát kéo theo hiện tượng khai thác tài nguyên kiệt quệ, rừng bị tàn phá, xói mòn sạt lở đất đai và ô nhiễm các nguồn nước mặt. Tỉnh Bình Phước là đơn vị hành chính mới được tái lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở tách 5 huyện trung du miền núi phía bắc của tỉnh Sông Bé cũ (gồm Phước Long, Đồng Phú, Bù Đăng, Lộc Ninh, Bình Long). Là địa bàn miền núi với xuất phát điểm kinh tế thuần nông, hạ tầng kỹ thuật và công nghiệp còn hạn chế nhưng lại giàu tiềm năng đất đỏ bazan, khoáng sản và thủy điện, Bình Phước bước vào giai đoạn đẩy mạnh khai hoang, khai thác gỗ, xây dựng công trình và phát triển công nghiệp chế biến, gây áp lực trực tiếp lên hệ sinh thái địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ môi trường, các quan điểm tiếp cận và phương pháp luận đánh giá tác động môi trường (ĐTM).
  2. Khảo sát, phân tích hiện trạng môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên (đất, nước, không khí, rừng, khoáng sản) của tỉnh Bình Phước sau tái lập.
  3. Bước đầu phân tích, đánh giá các tác động tiêu cực nảy sinh từ hoạt động khai thác tài nguyên (đặc biệt là xói mòn đất, diễn biến nước mặt và phát thải công nghiệp chế biến nông sản).
  4. Đề xuất các định hướng, phương án cải tạo và biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu tác động xấu, hướng tới phát triển bền vững tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ tương tác giữa các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên của con người và những biến đổi môi trường sinh địa lý, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ tỉnh Bình Phước với diện tích tự nhiên 6.855,99 km² (tương đương 685.599,33 ha), bao quát 7 huyện (Phước Long, Đồng Phú, Bù Đăng, Bù Đốp, Lộc Ninh, Bình Long, Chơn Thành) và thị xã Đồng Xoài. Nghiên cứu tập trung đi sâu vào các khu vực trọng điểm như huyện Đồng Phú, huyện Bù Đăng, lưu vực dòng Sông Bé và tiểu lưu vực trạm quan trắc Darmo.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu điều tra, thống kê và quan trắc được thu thập chủ yếu từ mốc tái lập tỉnh năm 1997 đến các năm 2000, 2001, cùng các số liệu quan trắc chuyên đề môi trường không khí và nước mặt thực hiện trong tháng 1/2002.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên việc kế thừa các định nghĩa và mô hình môi trường học cổ điển lẫn hiện đại:

  • Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường: Dẫn xuất từ thuật ngữ "Ecology" do nhà bác học người Đức Ernst Haeckel đề xuất năm 1866; vận dụng định nghĩa môi trường con người của UNESCO (1991) và mô hình phân rã "Hệ môi trường" thành ba phân hệ tương tác: môi trường tự nhiên (vật lý, sinh học), môi trường nhân tạo và môi trường xã hội.
  • Khái niệm và định nghĩa ĐTM: Khóa luận khảo cứu các định nghĩa ĐTM của Munn, R.E. (1979), Clark, Brian D. (1980), Ahmad, Yusuf J. (1985). Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa làm việc: ĐTM do các hoạt động khai thác tài nguyên là việc xác định, phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạt động đó có thể gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con người tại địa bàn liên quan.
  • Hệ quan điểm nghiên cứu: Gồm 3 quan điểm trụ cột: (1) Quan điểm tổng hợp (xem xét chỉnh thể không tách rời giữa tự nhiên - xã hội - nhân tạo); (2) Quan điểm sinh thái học (dựa trên thuyết hệ thống, nhìn nhận môi trường là hệ sinh thái xã hội); (3) Quan điểm hệ thống (đánh giá đa chiều mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai nhằm đảm bảo trạng thái cân bằng động của hệ thống).
  • Khung phương pháp luận ĐTM: Vận dụng hệ thống nguyên tắc ĐTM của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) gồm các bước xác định nhân tố, xây dựng hệ thống chung, phân tích nhân tố địa lý cảnh quan, phân tích bản đồ và phân tích lợi hại kinh tế. Tuân thủ 3 nguyên tắc thực hiện: hợp lý, phân tích và hệ thống.
  • Khung pháp lý và quy chuẩn áp dụng: Luật Tổ chức Chính phủ (30/09/1993), Luật Bảo vệ Môi trường (27/12/1993), Chương 4 Nghị định Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường (18/10/1994); Quyết định 78/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định 09/2001/QĐ-UB của UBND tỉnh Bình Phước. Hệ thống quy chuẩn gồm: Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh TCVN 5937-1995, TCVN 5938-1995, tiêu chuẩn tiếng ồn TCVN 5949-1995, tiêu chuẩn vệ sinh lao động TCVS-1992 (Bộ Y tế) và tiêu chuẩn chất lượng nước mặt TCVN 5942-1995 (Loại A).

Các phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai:

  • Phương pháp sưu tầm dữ liệu và tài liệu: Thu thập báo cáo, niên giám thống kê từ các cơ quan quản lý chuyên ngành tại Bình Phước.
  • Phương pháp thống kê: Phân loại, lập biểu bảng xử lý chuỗi số liệu về khí tượng, thủy văn, cơ cấu sử dụng đất đai, diễn biến độ che phủ rừng và nồng độ chất ô nhiễm.
  • Phương pháp phân tích: So sánh, phân tích các chỉ tiêu môi trường với tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành để xác định mức độ sai lệch và nguy cơ suy thoái.
  • Phương pháp bản đồ: Khai thác và đối chiếu hệ thống bản đồ đất đai, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa chất và mạng lưới thủy văn khu vực để định vị các hiện tượng xói mòn và nguồn thải.
  • Phương pháp tổng hợp: Liên kết các nhân tố đơn lẻ (đất, nước, rừng, khí hậu) thành bức tranh toàn cảnh về tác động tổng hợp của các hoạt động nhân sinh lên môi trường tỉnh.

Nguồn dữ liệu của công trình được cung cấp trực tiếp bởi các cơ quan chuyên trách: Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bình Phước, Sở Địa chính, Cục Thống kê, Đài Khí tượng Thủy văn và Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Phước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan

Chương này dành cho việc tổng thuật lý luận và lịch sử phát triển ĐTM. Tác giả khái quát tiến trình ĐTM trên thế giới từ cuối thập niên 1970 - đầu thập niên 1980 tại các nước phát triển và khu vực Đông Nam Á (Thái Lan, Philippines, Malaysia); vai trò tuyên bố chính sách năm 1980 của UNEP, UNESCO, Ngân hàng Thế giới (WB) bắt buộc dự án vay vốn phải có báo cáo ĐTM; cũng như sự chuyển giao kỹ thuật từ Hội đồng Chất lượng Môi trường Hoa Kỳ và Canada.

Tại Việt Nam, tiến trình ĐTM bắt đầu từ năm 1983 khi cử chuyên gia dự khóa tập huấn của Đại học Liên Hiệp Quốc ở Trung Quốc, tiếp nối bằng chương trình nghiên cứu cấp nhà nước 52D (mã số 52D-07) do Đại học Hà Nội chủ trì, dự án tài trợ của UNEP (6/1993) và sự ra đời của khung pháp lý môi trường năm 1993 - 1994. Tác giả điểm lại các báo cáo ĐTM tiêu biểu thời kỳ đầu: ĐTM sau thi công Nhà máy giấy Bãi Bằng (1992-1993), ĐTM trong thi công hồ chứa Trị An (1994-1995), thăm dò dầu khí ngoài khơi của Viện Dầu khí, và ĐTM tổng hợp thủy điện Trị An của đơn vị VITEP, EPC. Phần cuối chương trình bày chi tiết cơ sở khoa học, các khái niệm môi trường, ba quan điểm nghiên cứu và năm phương pháp luận địa lý ứng dụng.

Chương II: Hiện trạng môi trường tỉnh Bình Phước

Chương II phác thảo toàn diện các thành phần môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên của tỉnh:

  • Môi trường tự nhiên và tài nguyên: Bình Phước nằm ở tọa độ 11°22' - 12°16'B và 106° - 107°28'Đ; tiếp giáp Tây Ninh, Campuchia (đường biên giới khoảng 240 km), Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Dương. Địa hình đồi sóng lượn chuyển tiếp dạng cao nguyên xuống đồng bằng, đỉnh cao nhất là núi Bà Rá (723 m). Về địa chất, lãnh thổ nằm ở rìa nam dãy Trường Sơn, mang dấu vết đá cổ Mêzôzôi và các đợt phun trào bazan Pleitoxen muộn. Thổ nhưỡng có 58% là đất feralit nâu đỏ trên đá bazan, 12% là đất phù sa cổ tơi xốp phân bố ở Bình Long, Đồng Phú. Khí hậu cận xích đạo nhiệt độ trung bình năm 25 - 26°C, lượng mưa từ 2000 - 2300 mm/năm chia hai mùa mưa - khô sâu sắc. Hệ thống thủy văn có ba trục chính: Sông Bé, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn cùng 19 hồ chứa lớn nhỏ (hồ thủy điện Thác Mơ lớn nhất đạt diện tích 10.600 ha, công suất 150.000 kW). Đa dạng sinh học nổi bật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bù Gia Mập với 383 loài (259 loài động vật có xương sống, 124 loài côn trùng), trong đó có 51 loài quý hiếm. Khoáng sản gồm bôxít (tiềm năng tại Đồng Phú, Phước Long, Bù Đăng), đá vôi Tà Thiết, sét gạch ngói và đá xây dựng.
  • Môi trường kinh tế - xã hội: Năm 2000, dân số tỉnh đạt 675.186 người, mật độ trung bình 98 người/km², dân cư nông thôn chiếm 84,67%, tỷ lệ tăng tự nhiên 2,16%. Thành phần dân cư gồm 40 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 82%, đồng bào thiểu số (nổi bật là người S'Tiêng bản địa, cùng các nhóm Tày, Nùng, Mường di cư) chiếm 18%. Tăng trưởng GDP đạt 8,38% (nông nghiệp tăng 8,3%, công nghiệp tăng 4,78%), thu ngân sách đạt 109% kế hoạch.
  • Hiện trạng các thành phần môi trường:
    • Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên 685.599,33 ha; đất nông nghiệp chiếm 421.440,43 ha; đất lâm nghiệp chiếm 198.677,75 ha; đất chuyên dùng 27.117,169 ha; đất ở 5.539,29 ha; đất chưa sử dụng 32.824,29 ha. Thế mạnh vượt trội là cây công nghiệp dài ngày (cao su, cà phê, điều, tiêu).
    • Chất lượng không khí: Kết quả quan trắc tháng 1/2002 tại 5 trung tâm huyện thị cho thấy nồng độ bụi dao động 0,08 - 0,26 mg/m³ (trong giới hạn TCVN), nồng độ các khí độc SO₂, NO₂, CO, Pb ở mức thấp. Yếu tố vượt chuẩn chủ yếu là tiếng ồn do mật độ giao thông đô thị. Tại các nhà máy chế biến cao su và hạt điều, các chỉ tiêu vi khí hậu cơ bản đạt chuẩn TCVS-1992, trừ cục bộ chỉ tiêu nhiệt độ hoặc tiếng ồn ở một số công đoạn sấy/ép.
    • Tài nguyên rừng: Đến ngày 31/12/2001, tổng diện tích rừng còn 168.570 ha (rừng tự nhiên 152.959 ha, rừng trồng 15.611 ha; rừng phòng hộ 69.389 ha, rừng đặc dụng 29.476 ha, rừng sản xuất 69.705 ha). Năm 2002, diện tích trồng mới theo Dự án 5 triệu ha rừng đạt 2.534 ha (đạt 136% kế hoạch), giao khoán quản lý bảo vệ rừng trên 50.000 ha.

Chương III: Đánh giá tác động môi trường do hoạt động khai thác tài nguyên

Chương III tập trung phân tích thực nghiệm hai tác động then chốt:

1. Tác động từ khai thác tài nguyên đất và vấn đề xói mòn: Tác giả tích hợp dữ liệu đề tài nghiên cứu xói mòn 3 năm do Trung tâm Tài nguyên và Môi trường thực hiện (Sở KHCN&MT nghiệm thu đầu năm 2002). Trên địa bàn hình thành 3 kiểu xâm thực: rửa trôi bề mặt (cường độ 2 - 5 cm/năm, cá biệt 8 - 10 cm/năm), rửa trôi có rãnh xói, và xói mòn khe rãnh. Tốc độ xói mòn phân hóa sâu sắc theo độ dốc:

Địa bàn Cấp độ dốc Tỷ lệ diện tích (%) Tốc độ xói mòn (tấn/ha/năm) Xói mòn trung bình toàn huyện
Đồng Phú Bằng phẳng
1° - 5°
5° - 15°
> 15°
-
75,6%
22,0%
-
Không đáng kể (0,5)
83
259
677
102 tấn/ha/năm
Bù Đăng < 5°
5° - 15°
> 15°
40,0%
45,0%
15,0%
< 100
259
678
234 tấn/ha/năm (gấp 2,3 lần Đồng Phú)

Tại tiểu lưu vực trạm quan trắc Darmo, cấp độ xói mòn đạt mức nguy hiểm (cấp 4 đến cấp 6), làm thất thoát tổng cộng 243.295 tấn đất/năm. Đi kèm đất trôi là sự rửa trôi nghiêm trọng các chất hữu cơ và dinh dưỡng khoáng (mùn, đạm, lân, kali), làm đất nhanh chóng bạc màu. Dòng bùn cát kéo theo 20.000 tấn chất rắn lơ lửng/năm ra khỏi lưu vực; vào mùa mưa, nồng độ chất rắn lơ lửng đạt 500 - 1000 mg/l, gây đục nguồn nước, suy giảm khả năng xuyên sáng của thủy vực, cản trở quang hợp của thực vật thủy sinh và bồi lấp lòng hồ thủy lợi, thủy điện.

2. Tác động từ khai thác tài nguyên nước: Toàn tỉnh có tổng lượng dòng chảy trung bình 26 tỷ m³/năm. Trục Sông Bé dài 150 km chảy qua tỉnh gánh chịu áp lực từ quy hoạch bậc thang 4 công trình tầm quốc gia: thủy điện Thác Mơ (dung tích 1,4 tỷ m³, lưu lượng điều tiết 60 m³/s), thủy điện Cần Đơn (72.000 kW), dự án thủy điện Sóc Phu Miêng (phê duyệt năm 2001) và hồ Phước Hòa. Sự can thiệp công trình làm thay đổi lưu lượng dòng chảy kiệt, gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông, bồi lắng phù sa lòng hồ và đe dọa sinh cảnh thủy sinh tự nhiên. Về chất lượng nước mặt, kết quả phân tích tháng 1/2002 tại 14 vị trí cho thấy nước Sông Bé có độ pH đạt 7,20 - 7,26, hoàn toàn nằm trong ngưỡng cho phép của TCVN 5942-1995 đối với nguồn loại A (6,0 - 8,5).

Chương IV: Phương án cải tạo, biện pháp bảo vệ và dự kiến xu thế phát triển

Tác giả xác định các nhiệm vụ môi trường cấp bách: phòng chống suy thoái đất dốc, bảo vệ vùng đầu nguồn thủy điện và kiểm soát xả thải chế biến nông lâm sản. Đề xuất quy hoạch sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2005 - 2010 với trọng tâm: áp dụng giải pháp công nghệ chế biến gỗ tận thu (đặc biệt là gỗ cao su); kết hợp mô hình kinh tế nông lâm kết hợp chống rửa trôi; thực thi định suất bảo vệ rừng 1 người/1.000 ha; và củng cố thể chế quản lý môi trường liên ngành tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu định lượng về tài nguyên và môi trường: Khóa luận đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường nền cho tỉnh Bình Phước giai đoạn 2000 - 2002. Công trình cung cấp các thống kê chuẩn xác về phân bổ 685.599,33 ha đất tự nhiên, 168.570 ha đất có rừng, trữ lượng dòng chảy 26 tỷ m³/năm, thông số quan trắc khí thải tại 12 nhà máy chế biến cao su - điều, và định lượng lượng đất rửa trôi cụ thể tại hai huyện Đồng Phú và Bù Đăng.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất: Tác giả kiến nghị mô hình bảo vệ tài nguyên gồm "3 khâu kết hợp đồng bộ":
    1. Hành chính - pháp lý: Kiện toàn mạng lưới kiểm lâm và thanh tra môi trường, xử lý nghiêm minh các vi phạm lâm luật và quy định xả thải;
    2. Kinh tế - xã hội: Đẩy mạnh giao khoán đất rừng dài hạn cho các hộ gia đình và tổ chức kinh tế gắn quyền lợi kinh tế với nghĩa vụ bảo vệ theo tinh thần Quyết định 78/2001/QĐ-TTg và Quyết định 09/2001/QĐ-UB;
    3. Truyền thông - giáo dục: Nâng cao nhận thức sinh thái của cộng đồng thông qua hệ thống thông tin đại chúng để ngăn ngừa tập quán đốt nương làm rẫy và săn bắt động vật hoang dã.
  • Đóng góp học thuật: Đây là một trong những nghiên cứu địa lý môi trường đầu tiên tiếp cận bài bản khung lý thuyết ĐTM để giải quyết bài toán phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường tại một tỉnh miền núi mới chia tách ở vùng Đông Nam Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả tự nhận định do điều kiện nghiên cứu bước đầu của sinh viên tốt nghiệp, trình độ và thời gian có hạn, nguồn tài liệu chưa thật đầy đủ nên chưa thể áp dụng trọn vẹn các mô hình định lượng ĐTM phức tạp. Các số liệu thống kê thu thập từ nhiều sở ngành khác nhau đôi khi còn thiếu tính đồng nhất. Nghiên cứu cũng chưa thực hiện được các đợt lấy mẫu phân tích chuyên sâu về tải lượng ô nhiễm trong nước thải công nghiệp cao su và biến động thủy văn theo mùa sau đập thủy điện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá biến động thủy văn, nguy cơ suy giảm chất lượng nước và sạt lở bờ sông do chuỗi 4 nhà máy thủy điện bậc thang trên Sông Bé; thiết lập mô hình tính toán chi phí - lợi ích mở rộng đối với các mô hình canh tác chống xói mòn trên đất dốc vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lý Tự nhiên, Quản lý Môi trường, Quản lý Tài nguyên Đất và Quy hoạch Phát triển Nông thôn.

Giá trị tham khảo nổi bật nằm ở hệ thống tư liệu điều tra thực địa và kết quả định lượng về xói mòn đất dốc (bộ số liệu trạm Darmo, huyện Bù Đăng, Đồng Phú), số liệu quan trắc vi khí hậu tại các nhà máy chế biến cao su - hạt điều, cùng các thống kê đất đai, rừng và thủy điện thời kỳ đầu tái lập tỉnh Bình Phước (1997 - 2002).

Câu hỏi thường gặp

1. Tốc độ xói mòn đất giữa huyện Đồng Phú và huyện Bù Đăng có sự chênh lệch như thế nào trong kết quả nghiên cứu? Tốc độ xói mòn trung bình hàng năm của huyện Bù Đăng là 234 tấn/ha/năm, cao gấp 2,3 lần so với huyện Đồng Phú (102 tấn/ha/năm). Nguyên nhân là Bù Đăng có địa hình dốc hơn với 45% diện tích có độ dốc từ 5° - 15° và 15% diện tích có độ dốc trên 15° (tốc độ xói mòn lên tới 678 tấn/ha/năm).

2. Chỉ số pH nguồn nước mặt tại Sông Bé đo đạc vào tháng 1/2002 đạt kết quả ra sao? Tại các điểm quan trắc trên Sông Bé (như Cầu Nha Bích, xã Thanh Hòa - Lộc Ninh), độ pH dao động trong khoảng từ 7,20 đến 7,26, hoàn toàn đạt yêu cầu theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995 quy định cho nguồn nước mặt Loại A (từ 6,0 đến 8,5).

3. Nghiên cứu ghi nhận chuỗi bậc thang thủy điện nào trên dòng Sông Bé đoạn chảy qua Bình Phước? Sông Bé đoạn qua tỉnh dài khoảng 150 km có 4 công trình tầm cỡ quốc gia: thủy điện Thác Mơ (công suất 150.000 kW, dung tích hồ 1,4 tỷ m³), thủy điện Cần Đơn (công suất 72.000 kW), dự án thủy điện Sóc Phu Miêng (được tỉnh phê duyệt năm 2001) và hồ Phước Hòa.

4. Chính sách quản lý và bảo vệ rừng nào của Trung ương và địa phương được khóa luận viện dẫn thực hiện trong năm 2001 - 2002? Nghiên cứu viện dẫn Quyết định số 78/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về quyền lợi, nghĩa vụ của hộ nhận giao khoán thuê đất lâm nghiệp và Quyết định số 09/2001/QĐ-UB của UBND tỉnh Bình Phước ban hành quy định tạm thời về khoán bảo vệ khoanh nuôi rừng cho dân nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, áp dụng định suất 1 nhân viên chuyên trách trên 1.000 ha rừng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Khánh Ly đã vận dụng hiệu quả các quan điểm hệ thống, sinh thái và phương pháp luận ĐTM để làm sáng tỏ hiện trạng môi trường tỉnh Bình Phước sau 5 năm tái lập. Công trình làm nổi bật các thách thức sinh thái then chốt, đặc biệt là nguy cơ mất đất do xói mòn mạnh tại các vùng đồi dốc và tác động dòng chảy từ chuỗi thủy điện bậc thang Sông Bé. Hệ thống dữ liệu thực nghiệm và giải pháp đồng bộ 3 khâu do tác giả đề xuất đóng góp nguồn tài liệu địa lý học ứng dụng có giá trị cho công tác quản trị tài nguyên và quy hoạch phát triển bền vững tại địa phương.