CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ VÀTHUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Năm 2014, nhiều chính sách thuế mới được thay đổi bắt đầu có hiệu lực như về luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân. Điều đó thể hiện rõ ý và quyết tâm của Nhà nước đã đồng hành cùng doanh nghiệp, cùng thấu hiểu để có nhiều điều luật hóa giúp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Thuế là chính sách tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vì vậy, sự thay đổi những điều luật về thuế chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì tác động của chính sách thuế đến toàn ngành sản xuất là rất phức tạp nên đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu tác động chủ yếu của thuế thu nhập doanh nghiệp đến các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính tại đơn vị để có những giải pháp thực tế đóng góp cho đơn vị.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 1.1 Quan niệm về chính sách tài khóa Chính sách là hệ thống quan điểm và đường lối để đạt được mục tiêu nhất định trong quản lý của một tổ chức hoặc trong quản lý nhà nước.
Căn cứ và thời gian của chính sách ngắn hạn hay chính sách dài hạn, căn cứ vào từng lĩnh vực quản lý của Nhà nước sẽ có những chính sách phát triển kinh tế, chính sách an sinh xã hội, chính sách đối ngoại,…trong từng lĩnh vực riêng biệt có chính sách có phạm vi hẹp hơn như: chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách đối ngoại,… Chính sách tài khóa là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô có tầm quan trọng hàng đầu của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Chính sách tài khóa không chỉ tác động tới các biến số chủ yếu của nền kinh tế như tăng trưởng 15 kinh tế, lạm phát, thất nghiệp,… mà còn trực tiếp tác động đến mỗi chủ thể trong nền kinh tế, từ mỗi doanh nghiệp đến mỗi hộ gia đình do môi trường kinh tế tài chính đều là hệ quả trực tiếp của các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Thông qua các công cụ của chính sách tài khóa như: thuế, phí, lệ phí, ngân sách nhà nước,…nhà nước chi phối và điều chỉnh tất cả các khâu trong sản xuất kinh doanh từ định hướng chiến lược lựa chọn lĩnh vực ngành nghề kinh doanh đến quản lý các yếu tố đầu vào và đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các yếu tố liên quan đến tài chính doanh nghiệp. Mỗi sự thay đổi trong hoạch định và triển khai thực hiện chính sách đều tác động tới tình hình tài chính doanh nghiệp, tới việc huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính trong doanh nghiệp từ đó có tác động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lợi nhuận hay thua lỗ, thậm chí quyết định đến sự tồn tại hay phá sản của từng doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.2 Mục tiêu của chính sách tài khóa Chính sách tài khóa là công cụ chính sách rất quan trọng để điều hành kinh tế quốc gia.
Chính sách tài khóa cũng được thực hiện nhằm mục tiêu điều tiết vĩ mô, ổn định hóa nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng, cụ thể: - Tăng sản lượng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: phản ánh sự gia tăng của sản lượng thực tế của đầu người qua thời gian. Chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thông thường để đo lường tăng trưởng kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội. - Ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát: Ổn định giá cả có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng phát triển kinh tế quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của nền kinh tế trong tương lai. Ổn định giá cả sẽ được cụ thể hóa thông qua chỉ số giá tiêu dùng xã hội.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động: Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả các chính sách vĩ mô trong đó có chính sách tài khóa. 16 Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm nói chung chủ yếu phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế. - Cân bằng thương mại: Đây cũng là mục tiêu mà các chính sách vĩ mô khác cần đạt được để điều tiết kinh tế, hướng tới phát triển kinh tế bền vững và ổn định.3 Công cụ của chính sách tài khóa Để đạt được những mục tiêu của mình, chính sách tài khóa được thiết lập dựa trên nhiều công cụ khác nhau, trong đó hai công cụ chính của chính sách tài khóa là thuế và chi tiêu chính phủ. Những thay đổi về mức độ của thuế và chi tiêu chính phủ có thể ảnh hưởng đến tổng thể nền kinh tế thông qua các biến số tài chính: tổng cầu và mức hoạt động kinh tế, kiểu phân bố nguồn lực, phân phối thu nhập.
- Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm mục đích phục vụ cho cộng đồng. Thuế liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN bao gồm 2 loại là thuế trực thu và thuế gián thu. + Khi Chính phủ đánh thuế gián thu (thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt,…) vào một loại hàng hóa nào đó làm giá cả hàng hóa đó bị tác động. Tác động về giá hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận của DN.
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung – cầu chi phối hoạt động sản xuất và đồng thời chi phối tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ thông qua giá cả. Khi không có thuế, chi phí các yếu tố cấu thành một sản phẩm hàng hóa bằng giá trị đích thực của nó và sẽ tạo ra cung cầu tương xứng trên thị trường. Khi có thuế, thì mức điều tiết của thuế gián thu bao hàm trong giá cả hàng hóa, làm tăng chi phí đầu vào của yếu tố sản xuất và tất yếu phải tăng giá cả hàng hóa bán ra trên thị trường, tạo điểm cân bằng cung cầu mới, thu hẹp khả năng thanh toán của người tiêu dùng cuối cùng và cả người sản xuất. 17 + Khi Chính phủ đánh thuế trực thu (thuế TNDN) thì nó hoàn toàn ảnh hưởng đến người sản xuất và trực tiếp tác động đến lợi nhuận sau thuế từ đó tác động đến hoạt động đầu tư của DN.
Khi thuế TNDN tăng, chi phí nộp thuế TNDN tăng lên, ảnh hưởng đến tài chính DN, làm giảm khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Khi thuế TNDN giảm, chi phí nộp thuế TNDN thấp, tạo điều kiện cho DN mở rộng sản xuất, kinh doanh. - Chi tiêu chính phủ: Là các khoản chi ngân sách nhằm thỏa mãn nhu cầu của Nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu chung của toàn xã hội. Trong đó, đầu tư xây dựng cơ bản của chính phủ là khoản chi nhằm mục đích hình thành các loại tài sản cố định, cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, đầu tư của chính phủ tập trung những ngành nghề, những lĩnh vực có hiệu ứng bên ngoài lớn, châm ngòi cho các hoạt động đầu tư của tư nhân. Tuy nhiên, thuế là một loại công cụ chính sách có đặc trưng là tính cưỡng chế, tính không hoàn trả và tính cố định, từ đó làm cho sự điều tiết của thuế mang tính quyền lực. Ngoài ra, thuế là công cụ của chính sách tài khóa có tác động trực tiếp đến tình hình tài chính DN vì vậy, đề tài chỉ tập trung đến tác động của chính sách thuế (thuế TNDN) đến tình hình tài chính DN.2 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ 1.1 Quan niệm về chính sách thuế Chính sách thuế là một trong những chính sách tài khóa của Nhà nước, trong đó nội dung của từng sắc thuế được sử dụng như là công cụ của chính sách trong quản lý kinh tế vĩ mô nhằm đạt được các mục tiêu đã định của Nhà nước. Chính sách thuế được hiểu là những quan điểm, đường lối của Nhà nước liên quan đến sử dụng công cụ thuế trong hệ thống những chính sách của mình.
Hệ thống quan điểm, đường lối đó thể hiện ở việc nhìn nhận vai trò 18 của thuế, mục tiêu sử dụng công cụ thuế, phạm vi tác động, tỷ lệ điều tiết, định hướng trong dài hạn,… nhằm làm cho công cụ thuế phát huy tốt nhất các vai trò của nó theo chiến lược và chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước. Như vậy, “Chính sách thuế là hệ thống những quan điểm, đường lối, phương châm của Nhà nước thông qua sử dụng các công cụ thuế nhằm phục vụ những mục tiêu nhất định của Nhà nước trong từng thời kì nhất định”.2 Nội dung chủ yếu của chính sách thuế Chính sách thuế là một bộ phận quan trọng của chính sách tài khóa, chịu sự chi phối bởi chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước và tình hình phát triển của đất nước. Trong các thời kì khác nhau, chính sách thuế có các biểu hiện cụ thể khác nhau, nhưng thông thường phản ánh những nội dung chủ yêu sau: + Một là, mục tiêu của chính sách thuế: xác định mức độ điều tiết qua thuế, những tác động kinh tế-xã hội của thuế như thuế nào và tại sao lại điều tiết ở mức độ đó cũng như có tác động kinh tế-xã hội đó. + Hai là, phạm vi tác động của chính sách thuế: chính sách thuế sẽ tác động đến những tổ chức, cá nhân nào trong xã hội.
Việc xác định rõ phạm vi tác động của chính sách thuế cho phép tập trung vào những mục tiêu quan trọng của chính sách, đồng thời, tránh được những hậu quả không mong muốn của chính sách. + Ba là, thời gian hiệu lực của chính sách: xác định rõ chính sách thuế được áp dụng trong thời kì nào, thời điểm bắt đầu và kết thúc của chính sách. + Bốn là, trách nhiệm thực hiện chính sách thuế: chỉ rõ tổ chức, cá nhân nào phải có trách nhiệm trong thực hiện chính sách như: cụ thể hóa chính sách thuế thành pháp luật thuế, tổ chức thực hiện pháp luật thuế, chấp hành pháp luật thuế,… 19 + Năm là, cách thức động viên nguồn thu cho ngân sách Nhà nước qua thuế của từng thời kì: động viên qua thuế trực thu và thuế gián thu, động viên từ các khu vực kinh tế khác nhau, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,… thể hiện cụ thể mục tiêu, quan điểm, đường lối về thuế của Nhà nước.