Chương 1 của luận văn sẽ tổng hợp các lý thuyết về ảnh hưởng của thuế đến cấu trúc vốn doanh nghiệp trên cơ sở tiếp cận chung về cấu trúc vốn, các lý thuyết kinh điển về cấu trúc vốn và những ảnh hưởng đến việc xây dựng cấu trúc vốn. Đồng thời, chương này sẽ đưa ra một số nhận định về mối liên hệ của thuế đến cấu trúc vốn doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đề tài tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về ảnh hưởng của thuế đến cấu trúc vốn doanh nghiệp để có cơ sở định hướng xây dựng mô hình nghiên cứu cho chương sau. Do vậy, mối quan hệ giữa thuế và cấu trúc vốn không chỉ được đúc kết qua các lý thuyết kinh điển mà còn được nhìn thấy qua những nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước.
Tổng quan về ảnh hưởng của thuế đến cấu trúc vốn doanh nghiệp 1. Cấu trúc vốn doanh nghiệp 1. Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là một khái niệm quen thuộc trong lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế tài chính. Hiện nay có khá nhiều tài liệu với những cách định nghĩa khác nhau về cấu trúc vốn doanh nghiệp.
“Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp.” (Trần Ngọc Thơ 2005, trang 409) Cấu trúc tài chính hay còn gọi là cơ cấu vốn mang ý nghĩa rộng hơn nhưng cũng bao quát hơn. Theo Trần Ngọc Thơ (2005), cấu trúc tài chính bao gồm nợ ngắn hạn cộng với nợ trung, dài hạn và vốn cổ phần thường, tất cả dùng để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp. Theo cách định nghĩa của Ross, Westerfield và Jordan (2004), cấu trúc tài chính của doanh nghiệp hay còn gọi là đòn bẩy tài chính, là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và VCSH theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động SXKD. Do đó, nội dung cơ bản trong việc hoạch định cấu trúc tài chính là xây dựng cấu trúc vốn.
Việc xác định tỷ trọng hợp lý cho mỗi nguồn tài trợ để hình thành cấu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 trúc vốn phù hợp là một trong những quyết định tài chính rất quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp. Điều cần thiết khi nghiên cứu về cấu trúc vốn là nhận thức rõ các lý thuyết cơ bản và những yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp để từ đó có cơ sở quyết định nguồn tài trợ đúng đắn. Các lý thuyết cơ bản về cấu trúc vốn doanh nghiệp Việc xây dựng cấu trúc vốn là kết quả của một tập hợp các quyết định tài chính nhằm hướng đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Từ xưa đến nay đã có khá nhiều trường phái lý thuyết đưa ra những kết luận cơ bản tạo nền tảng cho việc nghiên cứu cấu trúc vốn và những yếu tố liên quan đến việc hoạch định cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller Lý thuyết của Modigliani và Miller hay còn gọi là lý thuyết M&M do hai nhà nghiên cứu Modigliani và Miller lập ra (Brigham và Houston 2009, Brealey và các tác giả 2008). Lý thuyết này được sáng lập lần đầu tiên vào năm 1958 và sau đó phát triển bổ sung ở các năm 1963 và 1977. Lý thuyết M&M đầu tiên ở năm 1958 nghiên cứu về cấu trúc vốn doanh nghiệp trong điều kiện thị trường hoàn hảo, không có chi phí giao dịch, thông tin trong suốt, không có các loại thuế, cùng một mức lãi suất áp dụng đối với doanh nghiệp và cá nhân, không có chi phí giải thể và chi phí phá sản, chính sách đầu tư của doanh nghiệp là cố định, không bị ảnh hưởng bởi các quyết định tài trợ. Trong điều kiện được giả định như trên, lý thuyết M&M 1958 đã đưa ra 2 kết luận về cấu trúc vốn.
Thứ nhất, M&M 1958 khẳng định giá trị thị trường của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn. Cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị của VCSH bởi các cổ đông có thể tự mình sử dụng “đòn bẩy tài chính” hoặc có thể tự tháo bỏ đòn bẩy tài chính mà doanh nghiệp đã thực hiện thông qua hoạt động “kinh doanh chênh lệch giá”. Do đó, M&M 1958 kết luận rằng việc sử dụng cấu trúc vốn thâm dụng nợ hay thâm dụng vốn cổ phần đều không ảnh hưởng đến giá trị thị trường của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường vốn cạnh tranh hoàn hảo không có thuế TNDN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thứ hai, lý thuyết M&M 1958 cho rằng nếu chi phí sử dụng vốn vay không đổi và thấp hơn chi phí VCSH thì đòn bẩy tài chính không làm thay đổi chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Tỷ lệ nợ trên VCSH tăng làm gia tăng chi phí VCSH, do nợ làm tăng rủi ro tài chính. Tuy nhiên giá trị cổ phiếu không thay đổi. Chi phí sử dụng vốn doanh nghiệp: WACC = x RE + x RD (RE: chi phí sử dụng VCSH; RD: chi phí sử dụng vốn vay; WACC: tỷ suất lợi nhuận đòi hỏi trên toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, ký hiệu là RA) Thay RA vào công thức trên ta có: RE = RA + (RA-RD) x RE phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận đòi hỏi trên tài sản của doanh nghiệp, chi phí vốn vay và tỷ lệ vốn vay trên VCSH (D/E). Trong thực tế, mặc dù thị trường tài chính không hoàn hảo như các giả định của M&M 1958 nhưng 2 kết luận trên đã đặt nền tảng quan trọng cho các lý thuyết sau này tiêu biểu là lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (trade-off) và lý thuyết trật tự phân hạng (pecking order) tiếp tục nghiên cứu phát triển về cấu trúc vốn cũng như việc sử dụng nợ hay VCSH sẽ mang đến lợi ích cho doanh nghiệp.
Đến năm 1963 và 1977, lý thuyết M&M mới được phát triển bổ sung thêm về tác động của các yếu tố thuế đến cấu trúc vốn doanh nghiệp. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (trade-off) Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn được đưa ra bởi nhiều nhà nghiên cứu nhằm giải thích rằng các doanh nghiệp thực tế phải chấp nhận đánh đổi giữa khoản giá trị lợi ích từ khoản tiết kiệm thuế nhờ lãi vay và nguy cơ kiệt quệ tài chính do sử dụng nợ. Năm 1973, hai nhà nghiên cứu Alan Kraus và Robert H.Litzenberger đã đưa ra kết luận rằng các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ tối ưu phản ánh sự đánh đổi giữa lợi ích của khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay và các chi phí phá sản (Frank và Goyal 2007). Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn cho thấy các giá trị lợi ích có thể đạt được hoặc mất đi khi sử dụng nợ hay VCSH và những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Điều này giúp các nhà quản trị doanh nghiệp cân nhắc trong việc xây dựng cấu trúc vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn nêu ra 2 lợi ích khi sử dụng nợ vay như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp sẽ tạo ra được lá chắn thuế từ chi phí lãi vay. Thứ hai, hoạt động của ban điều hành có kỷ luật hơn. Giả sử doanh nghiệp không sử dụng nợ vay, ít cổ đông bên trong công ty trong khi có nhiều cổ đông nhỏ bên ngoài công ty.
Nếu doanh nghiệp tạo ra dòng tiền dồi dào hàng năm, ban điều hành công ty có xu hướng tự hài lòng. Điều này khiến việc điều hành doanh nghiệp thiếu hiệu quả và đầu tư vào những dự án kém lợi nhuận. Do vậy bằng cách buộc doanh nghiệp vay nợ và chi trả cổ tức, giám đốc cần chắc chắn rằng các dự án đầu tư tạo ra dòng tiền đủ để trả lãi vay. Nếu không doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.
Từ đó, nợ vay có thể giúp giảm bớt chi phí đại diện vốn cổ phần phát sinh từ xung đột lợi ích giữa các cổ đông và ban điều hành doanh nghiệp (Trần Ngọc Thơ 2005). Tuy nhiên, nợ vay làm tăng chi phí phá sản. Đó là các chi phí pháp lý và quản lý hành chính liên quan trực tiếp đến trình tự phá sản và những khó khăn khi điều hành doanh nghiệp trong giai đoạn túng quẫn tài chính. Do vậy lý thuyết này đưa đến việc đánh đổi giữa khoản tiết kiệm thuế và chi phí phá sản.
VL = VU + PV of benefits of debt – PV of expected bankruptcy costs (VL: giá trị doanh nghiệp sử dụng nợ vay; VU: giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ vay) Bên cạnh đó, lý thuyết đánh đổi cho rằng với các điều kiện khác không thay đổi, chi phí phá sản càng cao doanh nghiệp càng ít có năng lực vay nợ. Các doanh nghiệp có các hệ số đòn bẩy tài chính khác nhau: Doanh nghiệp có nhiều tài sản hữu hình an toàn và lợi nhuận cao có thể theo đuổi hệ số đòn bẩy mục tiêu cao; ngược lại, doanh nghiệp chưa có lợi nhuận trong khi nhiều tài sản vô hình và rủi ro thì nên dựa chủ yếu vào nguồn VCSH. Ngoài ra, với các điều kiện khác không đổi, lý thuyết đánh đổi cho rằng vấn đề liên quan đến quan hệ ủy quyền – đại diện hay còn được gọi chung là chi phí đại diện càng lớn thì doanh nghiệp càng ít năng lực vay nợ. Một ngân hàng khi xem xét quyết định cho vay giữa doanh nghiệp mới thành lập và một doanh nghiệp hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 động ổn định lâu năm thì đối với doanh nghiệp mới thành lập chưa có hoạt động đầu tư như thế nào để làm căn cứ chứng minh cho hoạt động kinh doanh, các ngân hàng sẽ phải xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng hơn.
Trong trường phái lý thuyết này, Harris và Raviv (1991) cho rằng tồn tại mối tương quan nghịch giữa nợ và chi phí đại diện. Diamond (1989) cũng khẳng định rằng những công ty tăng trưởng và đã từng vay nợ thì có xác suất phá sản và chi phí đại diện tương đối thấp, các công ty này sẽ tài trợ bằng nợ nhiều hơn so với những công ty mới thành lập. Sự ra đời của lý thuyết đánh đổi giúp giải thích được nhiều khác biệt về cấu trúc vốn của các công ty trong cùng ngành nhưng lại không thể giải thích được lý do tại sao các doanh nghiệp sinh lợi nhất trong ngành lại có cấu trúc vốn bảo thủ nhất. Điều này dẫn đến việc ra đời của lý thuyết trật tự phân hạng.