CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Lý luận chung về thuế xuất nhập khẩu 1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu Thuế nói chung vừa là một phạm trù mang tính khách quan vừa là phạm trù mang tính lịch sử. Thuế tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước.
Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, giai cấp và tầng lớp xã hội xuất hiện thì Nhà nước cũng hình thành. Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương, thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản; chi cho các công việc ban đầu thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng. Nguồn tài chính đó có thể là sự huy động của các cá nhân trong tổ chức xã hội. Theo một cách nào đó có thể hiểu nguồn tài chính này là thuế.
Thuế được áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau và được chia thành nhiều loại thuế. Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển dẫn đến các quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa giữ các quốc gia diễn ra ngày càng tăng. Mỗi một quốc gia độc lập có chủ quyền đều sử dụng một loại thuế thu vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới nước mình. Thuế này được gọi chung là thuế quan (Custom duty).
Thuế quan ở Việt Nam có tên gọi là thuế xuất nhập khẩu. Thuế xuất nhập khẩu là loại thuế gián thu đánh vào những mặt hàng được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam kể cả thị trường Sv: Nguyễn Thị Thu Hương 4 Lớp:CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước. Thuế xuất nhập khẩu được Nhà nước ta ban hành vào năm 1951, thời điểm này thuế xuất nhập khẩu là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng xuất nhập khẩu hàng hóa giữa vùng tự do, xúc tiến việc giao lưu các loại hàng hóa là nhu yếu phẩm cần thiết cho quân đội và nhân dân. Phương châm đấu tranh kinh tế với địch là đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ nhập khẩu các loại hàng hóa cần thiết cho kháng chiến, sản xuất và đời sống nhân dân.
Do đó Nhà nước miễn thuế xuất khẩu cho tất cả các loại hàng hóa của vùng tự do. Mặt khác, hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ vùng địch. Thuế suất áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu là từ 30% trở lên. Huy động nguồn tài chính cho NSNN.
Đối với thuế xuất nhập khẩu ở mức cao thì tạo nguồn thu lớn cho NSNN. Tuy nhiên thuế nhập khẩu ở mức thấp, số thu cho NSNN sẽ thấp hoặc không đáng kể, nhưng thuế xuất nhập khẩu thấp có nghĩa là khuyến khích nhập khẩu, thu NSNN sẽ tăng lên ở khâu tiêu thụ sản phẩm bằng các loại thuế nội địa. Đối với thuế xuất nhập khẩu ở mức cao thì tạo nguồn thu lớn cho NSNN, nhưng hạn chế xuất khẩu. Nếu thuế nhập khẩu ở mức thấp sẽ khuyến khích xuất khẩu và nguồn thu NSNN sẽ tăng bằng các thuế nội địa khác.
Thuế xuất nhập khẩu đánh vào giá trị hàng hóa nhằm hạn chế xuất khẩu các mặt hàng cần thiết và những loại vật tư, nguyên liệu quý hiếm để phát triển nền kinh tế trong nước, thỏa mãn nhu cầu thị trường hoặc bảo vệ môi trường sinh thái. Thuế nhập khẩu đánh vào giá trị hàng hóa nhập khẩu từ thị trường nước ngoài vào thị trường trong nước, thông qua viêc tác động vào giá cả hàng hóa nhập khẩu trên thị trường, thuế nhập khẩu đã bào hộ sự xâm nhập của hàng hóa ngoại vào thị trường trong nước, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nội địa. Sv: Nguyễn Thị Thu Hương 5 Lớp:CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Quản lý hoạt động xuất nhập khẩu thông qua thuế xuất nhập khẩu, Nhà nước kiểm soát được số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vào thị trường trong nước, kết hợp chính sách ngoại thương thích hợp để có biện pháp xử lý kịp thời nhằm tăng cường hoặc hạn chế hàng hóa ra vào thị trường trong nước. Thông qua công cụ thuế, Nhà nước khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài; nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu; góp phần hướng dẫn tiêu dùng trong nước; góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hợp tác quốc tế.
Đặc điểm thuế xuất nhập khẩu Thuế xuất nhập khẩu là công cụ quan trọng trong chính sách Nhà nước, thuế xuất nhập khẩu có những đặc điểm quan trọng như sau: Thứ nhất: Thuế xuất nhập khẩu là loại thuế gián thu, Nhà nước sử dụng thuế xuất nhập khẩu để điều chỉnh ngoại thương thông qua việc tác động vào giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu. Người nộp thuế là người thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Việc tăng giảm thuế suất thuế xuất nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp tới giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu và sự lựa chọn của người tiêu dùng buộc nhà sản xuất và nhập khẩu hàng hóa phải điều chỉnh sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp. Thứ hai: Thuế xuất nhập khẩu là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương.
Hoạt động ngoại thương giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, tuy nhiên hoạt động này đòi hỏi có sự quản lý của Nhà nước. Thuế xuất nhập khẩu là công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua việc kiểm soát giá cả và chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu. Giá cả của hàng hóa được xác định làm căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu là giá trị cuối cùng của hàng hóa qua cửa khẩu xuất (đối Sv: Nguyễn Thị Thu Hương 6 Lớp:CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính với thuế xuất khẩu) và giá trị hàng hóa tại cửa khẩu nhập đầu tiên (đối với thuế nhập khẩu). Thứ ba: Thuế xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như: sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế… Thuế xuất nhập khẩu điều chỉnh vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia.
Sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa xuất nhập khẩu của các quốc gia nhất là xu thế tự do hóa thương mại, mở cửa và hội nhập kinh tế như hiện nay. Để đạt được những mục tiêu đề ra đòi hỏi chính sách thuế xuất nhập khẩu phải có tính linh hoạt cao, có những biến đổi phù hợp tùy theo tình hình kinh tế thế giới và đảm bảo phù hợp với những cam kết quốc tế. Lý luận về chính sách thuế xuất nhập khẩu 1. Khái niệm chính sách thuế xuất nhập khẩu Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên sách báo, các phương tiện thông tin và đời sống xã hội.
Mọi chủ thể kinh tế - xã hội đều có những chính sách của mình. Có chính sách của các cá nhân, chính sách của doanh nghiệp, chính sách của Đảng, chính sách của một quốc gia, chính sách của một liên minh các nước hoặc tổ chức quốc tế v. Theo quan điểm phổ biến, chính sách là phương thức hành động được chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại. Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định, chúng vạch ra phạm vi hoặc giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở những nhà quản lý những quyết định nào là không thể.
Bằng cách đó, các chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức. Các chính sách kinh tế - xã hội của nó phải tạo nên một hệ thống các chính sách đồng bộ và nó phải thoả mãn những yêu cầu cơ bản đó là tính Sv: Nguyễn Thị Thu Hương 7 Lớp:CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính khách quan, tính chính trị, tính đồng bộ và hệ thống, tính thưc tiễn và tính hiệu quả kinh tế - xã hội. Chính sách thuế xuất nhập khẩu là tổng hợp các phương hướng của Nhà nước vào từng giai đoạn trong lĩnh vực nộp thuế xuất nhập khẩu và các biện pháp thủ pháp để đạt được các mục tiêu đã định. Chính sách thuế xuất nhập khẩu thể hiện đường lối và phương hướng động viên thu nhập trong nền kinh tế quốc dân dưới hình thức thuế xuất nhập khẩu.
Chính sách thuế xuất nhập khẩu được thể hiện bằng cách thiết lập các văn bản pháp luật trong lĩnh vực nộp thuế xuất nhập khẩu; xác định biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi so sánh thuế xuất nhập khẩu trong từng giai đoạn phát triển nhất định. Chính sách thuế xuất nhập khẩu là một bộ phận quan trọng cấu thành của nền kinh tế nói chung, chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia. Nhiệm vụ cơ bản của nó là góp phần thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại đảm bảo an toàn về kinh tế và công nghệ của đất nước, giải quyết các mục tiêu kinh tế, tài chính và chính sách thương mại. Mục tiêu của chính sách thuế xuất nhập khẩu *Mục tiêu ngân sách: Thuế xuất nhập khẩu có nhiệm vụ động viên tối đa nguồn tài chính do hoạt động ngoại thương mang lại tập trung vào NSNN.
Để đạt được mục tiêu này, có những nước, đặc biệt là những nước đang phát triển do hoạt động ngoại thương chưa phát triển nên thường coi biện pháp tối đa thuế quan làm biện pháp chủ yếu để đạt được mục đích. Biện pháp này đôi khi lợi bất cập hại. *Mục tiêu bảo hộ nền sản xuất trong nước: Tùy theo đặc điểm kinh tế của mỗi nước mà mục tiêu này được xem xét ở các mức độ khác nhau. Ở những nước có nền kinh tế phát triển cao, khả nảng cạnh tranh của hàng hóa nội địa lớn thì biện pháp thuế quan được sử dụng cho mục đích này thường ít Sv: Nguyễn Thị Thu Hương 8 Lớp:CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính được coi trọng.