Chương 1. Khái quát vẻ đánh giá tác động chính sách trong xây dựng pháp luật. Thực hiện đánh giá tác đông của chính sách bảo dam hệ thông an sinh xã hội thủ đô toàn diện, bao trùm và ben vững trong dé nghị xây dựng luật thủ đô (sửa doi) và kiến nghị hoàn thiên. CHƯƠNG L KHÁI QUAT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT 1.
Khái niệm đánh giá tác động chính sách 1. Khai mệm chính sách và đánh giá tác động chính sách © Khai mềm chính sách Chính sách là thuật ngữ pho bien trong khoa học chính trị, khoa học chính sách công. Đông thời cũng thường được sử dụng trong các văn kiện, văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước. Trên thực tế, có rất nhiều cách hiểu khác nhau vẻ khái niệm chính sách.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “chính sách là những chuẩn tắc cụ thé dé thực liện đường lối, nhiệm vụ. Chinh sách được thực hiện trong một thời gan nhất dinh, trên những nh vực cụ thể nào dé”. Như vậy, chính sách theo quan điểm này được hiểu là một phương tiện, công cụ mang tính chuẩn tắc, hoạch định những đường lỗi chung liên quan đến nhiệm vụ nhất định trongmột lĩnh vực nhất định. Theo Theo PGS.
TS Lê Chi Mai: “Chinh sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quan ly dé ra đề giãi quyết một vẫn dé nào đó thuộc phạm wi thâm quyển của minh”. Trong hệ thông van bản quy pham pháp luật V iệt Nam đã ghi nhân khái niệm vẻ chính sách, cụ thé, tai Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP định nghia: “Chính sách là đình hướng, giải pháp của Nhà nước đễ ga quyét vấn dé của thực tén nhằm đạt được mục tiêu nhất dink.” Có thé nhận thấy rằng có nhiều quan điểm, khái niệm vẻ chính sách, mặc đủ các cách tiếp cận có thé khác nhau, nhưng đều có những điểm chung nhất định. Vẻ bản chat, có ba Yêu to căn bản trong nôi hàm của khái niệm chính sách: ~ Chữ thể: Chính sách luôn gắn với mỗi chủ thể nhất định trong việc xây dung và thực thi chính sách. Chính sách có thể do cơ quan, cá nhân cóthấm quyền và trách nhiệm trong hoạt đông xây dung pháp luật ban hành.
Hoặc có thé được xây dựng bởi các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế và bắt kỳ cơ quan, tỏ chức, cá nhân nào trong xã hội. - Mục tiêu: Là mức độ giải quyét van dé thực tiễn mà Nhà nước mong muốn hướng tới theo 16 trình cụ thé được đặt ra trong khoảng thời gian ngắn hoặc lâu dài (mục tiêu ngắn hạn, mục ` Tic dién Bách khoa Việt Nem , NXB, Khoa hoc số hội, Bà Nội, 199%, 415 6 tiêu dai hạn) nhằm han chế các tác đông tiêu cực đối với các đối với các đói tượng chịu tác dong hoặc chịu trách nhiệm tổ chức thi hành chính sách, pháp luật. - NGi dung: Những định hướng, giải pháp cốt lối, cơ bản hướng đền việc đạt được mục tiêu đề ra. Giải pháp phải phủ hop, cản xứng với van dé quy mô, phạm vi, đói tượng tác động, khắc phục được đúng các nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp gây ra van đề, đồng thời giải pháp phải hiệu quả nghia là đạt được mục tiêu đặt ra với chỉ phi hợp lý, khả thi đối với các đối tượng phải thực hiện, tuân thủ.
Nhìn chung, nghiên cứu về chính sách nhằm xác định và hiểu rổ chủ trương, đường lối mà trong đó chi 16 những phương pháp cu thé mà các chủ thể đặc biết sử dung để giải quyết các van dé và đạt được mục tiêu đề ra. * Khái nệm đánh giá tác động chính sách: Đánh giá tác động của chính sesh hiện là một quy trình, hoạt dong không thể thiếu trong quá trình xây dung luật. Việc đánh giá tác động chính sách góp phan hỗ trợ cho chính sách có tinh kha thi hơn, mang lại thông tin, số liệu đáng tin cậy và thuyết phục dé triển khai việc hoạch định chính sách. Trên thể giới, thuật ngữ được sử dụng pho biến trước tiên phải ke dén là đánh giá tác dong của quy định pháp luật (Regulatory Impact Assessment- RIA).
RIA được áp dụng lan đầu tiên trên thé giới vào giữa thập niên 70 của thé kỉ XX tại Mỹ, dưới thời Tổng thông Ford, do có Ìo ngại về gánhnặngquy định pháp luật đẻ lên vai xã hoi, đặc biệt là doanh nghiệp, cộng với lo ngại điều đó có thể làm gia tang lạm phát. Lúc đầu, người ta chỉ chú ý phan tích. tác đông đối với doanh nghiệp, sau đó mới chú ý đánh giá tác động đến các chủ thể khác. Sau nay, RIA đã được áp dụng ở đại đa só các nước thuộc Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), nhiều nước châu Âu chuyên đổi, châu A, châu Phi, châu Mỹ La tinh; RIA đã được sit dụng như một công cu hữu hiệu nhằm đảm bão chat lượng và tính hiệu quả của môi trường pháp lý.
* Tai Việt Nam, lan đầu tiên trong lich sử lập pháp, yêu cau vẻ đánh giá tác đông pháp luật trong quy trình xây dựng van bản quy phạm pháp luật được quy đình trong một đạo luật ~ đó là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và đền nay được gọi tên là đánh giá tác động chính sách trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 201 5, * Doin Thi To Uyên (2016), “Đánh: giá tác động pháp luật rong quá trồnh xâp đựng văn ban quo pham pháp luật & Vist Nam Hiện ney”, Tap chí Luật học ,số 05/2016,,tr 6$ 7 sửa đôi bỏ sung năm 2020. Khai niệm đánh giá tác động của chính sách (ĐGTĐCS) được quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, theo đó: “ Đính giá tác động của chính sách là wéc phân tích, dự bảo tác động của chính sách đang được xây dựng đối với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm lựa chon giã pháp tốt wu thực liền chính sách.” Có thể hiểu một cách khái quát, đánh giá tác động của chính sách là phân tích, dự bao những tác động của các phương án chính sách được đưa ra trên cơ sở những dữ liệu thông tin thu nhập được trong quá trình khảo sát, nghiên cứu thực tế đời song xã hỏi, trong đó các tác đông của chính sách được đánh giá theo nhiều phương diện, nội dung khác nhau và đối với những đối tượng chịu sự tác động của chính sách, nhằm tim ra giải pháp tối wu, giải quyết van đẻ mà thực tiễn đặt ra. Điều này phải được làm một cách hiệu quả, minh bạch và không tôn kém. Đánh giá tác đông cũa chính sách nói chung thường được thực hiênở cả hai giai đoạn: Trước khi chính sách được ban hành (đánh giá sự can thiet, dự báo những anh hưởng tích cực/tiêu cực nêu chính sách được thực thi.); va sau khi chính sách đã được ban hành và đivào cuộc sông (đánh giá két quả, hiệu quả của chính sách trong thực tienthi hành).2 Vai trè của việc đánh giá tác động chính sách Trong một xã hội phức tap và đa dạng như hiện nay, các chính sách có thể ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của cuộc song, từ kinh tế đến xã hội, môi trường và văn hóa.
Vì vậy, đánh giá tác đông chính sách đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoạch đình chính sách, pháp luật: Thứ nhất, là công cu hoạch dinh chinh sách và lập pháp hữm hiệu. Quá trình thực hiện ĐGTĐCS yêu cau các cơ quan tỏ chức soạn thảo phải xây dựng báo cáo đánh giá tác đông của chính sách dự báo sẽ đưa ra, trong đó nêu 16 các van dé can giải quyết, giảipháp đối với từng van dé, chi phí lợi ích của các giải pháp. Đây chính là tien đề quan trọng cho việc hoạch định các phương án giải quyết để đạt được mục tiêu chính sách đã đề ra, đảm bảo cho nội dung của chính sách có tính đa chiều, bám sát thực tiễn của nên kinh tế xã hội, giảm bớt các sai lầm vẻ chính sách. Việc ĐGTĐCS sẽ phân tích, đo lường day đủ, cụ thé tác đông tích cực, tiêu cực, lượng hóa chi phí và loi ích của chính sách trong moi quan hệ tong thể với chính sách pháp luật khác ở các văn bản quy pham pháp luật liên quan của Nhà nước, điều ước quốc té ma nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam la thành viên va nguồn lực bảo dim thực hiện § Việc ĐGTĐCS giúp hoạch định chính sách, quyết định lưa chọn giải pháp chính sách phù hop theo hướng có gắng giảm thiểu những tác động tiêu cực, tăng cường những tác động tích cực, góp phân giải quyết những van đẻ xã hôi liên quan dén chính sách mà thục tế đời sống xã hội đặt ra.
Vì vậy, ĐGTĐCS§ giúp cơ quan có thẩm quyền than trọng, khách quan nhằm xem xét, cân nhắc lựa chọn giải pháp hợp lý, khả thú và hiệu quả đề giải quyết ván đẻ thực tiến dựa trên việc phân tích chi phi, lợi ích, tác động tích cực và tiêu cực đối với cá nhân, tổ chức và cơ quan nha nước do thi hành chính sách néu được ban hành 3 Thứ hai, nâng cao chất lượng, liệu quả thi hành chính sách Thông qua việc ĐGTĐCS mỏt cách toàn diễn, các cơ quan có thẩm quyền xây dựng chính sách có thể chỉnh sửa, bỏ sung những điểm chưa phủ hợp trong các phương án chính sách, phục vụ mục tiêu xây dựng mét chính sách tốt. Bên canh đó, ĐGTĐCS còn giúp cơ quan soạn thảo có thể phát hiện ra những điểm chong chéo, mau thuan, khong phủ hợp trong các van bản quy phạm pháp luật khác liên quan, gop phan nâng cao chat lượng văn bản quy pham pháp luật. Việc ĐGTĐCS còn nâng cao hiệu quả chí phí của quyết định liên quan đến quản ly nhà nước, qua đó giảm được số lượng quy định có chat lượng tháp và không cân thiết. Sau quá trình đánh giá tác động, nêu chính sách chưa thực sự can thiết thì Nha nước có thể thực hiện các công cụ khác điều chỉnh, góp phan giảm chi phí cho ngân sách nhà nước mà van dem lại hiệu quả cho xã hội Thứ ba, dam bdo sự công kh, minh bach trong quá trình xây dung chính sách Quá trình ĐGTĐCS đòi hỏi cơ quan xây dung, ban hành chính sách phải thực hiện một số thủ tục bắt buộc, trong đó có việc tham van chính sách đôi với từng đối tượng chịu tác động và các bên liên quan như các bô, ngành, tỏ chức chính trị - xã hi nhằm thu thập ý kiến đánh giá một cách khách quan, toàn diện vẻ nội dung dự thao.