Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu; Đối tƣợng, Phạm vi, Câu hỏi và Giả thuyết nghiên cứu, Ý nghĩa của đề tài. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Địa điểm, thời gian, cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và khuyến nghị z4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm Những khái niệm chính đƣợc lựa chọn giới thiệu và phân tích trong luận văn này có mối liên hệ logic và hệ thống với nhau nhằm tập trung vào các nội dung nghiên cứu chính là: Tác động của BĐKH, hệ sinh thái – xã hội, tiếp cận dựa vào hệ sinh thái và dựa vào cộng đồng, sinh kế và sinh kế thích ứng, cụ thể: Biến đổi khí hậu (Climate change): Theo IPCC, BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thƣờng xuyên của con ngƣời, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2007).
Tính dễ bị tổn thương do BĐKH (Vunerability): Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau do đó cũng đƣợc ứng dụng theo các hƣớng khác nhau. Trong BĐKH, IPCC đã nhiều năm nghiên cứu và phát triển nhằm có đƣợc định nghĩa về tính dễ bị tổn thƣơng đối với BĐKH và NBD một cách chính xác nhất. Khái niệm đƣợc ứng dụng rộng rãi hiện nay là khái niệm do IPCC 2007 xây dựng: “Tình trạng dễ bị tổn thƣơng là mức độ mà một hệ thống dễ bị ảnh hƣởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu. Tình trạng dễ bị tổn thƣơng là hàm số của tính chất, cƣờng độ và mức độ phơi lộ (hứng chịu) của các biến đổi và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống [IPCC, 2007).
Tóm lại, tính dễ bị tổn thƣơng là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thƣơng do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH. Ứng phó với BĐKH (Responding to climate change): Là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Nhƣ vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính z5 là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH (Bộ TN&MT, 2008). Với nhận thức rằng BĐKH là một quá trình không thể đảo ngƣợc đƣợc, chúng ta cần có những nỗ lực để ổn định khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa sự can thiệp tiêu cực của con ngƣời đối với hệ thống khí hậu (giảm nhẹ BĐKH) và giảm nhẹ các thiệt hại do BĐKH gây ra (thích ứng với BĐKH).
Thích ứng với BĐKH (Adaptation) là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT-XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ TN&MT, 2008). Giảm nhẹ BĐKH (Mitigation) là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cƣờng độ phát thải KNK (Bộ TN&MT, 2008). Tính chống chịu (Resillient): là khả năng của một hệ thống chịu đƣợc các nhiễu loạn mà không bị phá vỡ và chuyển sang một trạng thái biến đổi về chất khác. Một hệ thống có khả năng chống chịu có thể hấp thu các nhiễu loạn, thay đổi hoặc điều chỉnh, sau đó tái tổ chức và vẫn giữ đƣợc các cấu trúc cơ bản và cách vận hành của nó (Trƣơng Quang Học, 2013).
Nói cách khác, theo nghĩa chung nhất có thể hiểu tính chống chịu là khả năng phục hồi/trở về trạng thái/hính dạng/kích thƣớc ban đầu của một vật, một hệ thống, một tình trạng sau khi bị tác động từ bên ngoài. Hệ sinh thái (Hệ sinh thái tự nhiên hay Hệ trái đất) (Ecosystem/natural ecosystem/Earth’s system - HST): đƣợc hiểu là một tổ hợp động của quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật, và các điều kiện môi trƣờng vô sinh xung quanh trong sự tƣơng tác lẫn nhau nhƣ một đơn vị chức năng thông qua các dòng năng lƣợng và các chu trình vật chất. Nhƣ vậy, HST là đơn vị tổ chức cơ bản của sinh quyển, có quy mô thay đổi, từ nhỏ bé nhƣ một bể cá cảnh, đến rộng lớn nhƣ rừng mƣa nhiệt đới. Giới hạn của HST thƣờng đƣợc xác định theo mục đích của từng nghiên cứu cụ thể.
Hệ sinh thái là một hệ mở, luôn có sự liên hệ với các hệ khác xung quanh (Trƣơng Quang Học, 2008b, 2011c, 2013). Khả năng chống chịu sinh thái (Ecological resilience): Khái niệm tính chống chịu của HST do nhà sinh thái học Canada, Holling, lần đầu tiên đƣa ra (1973) để mô tả tính ổn định của các HST tự nhiên dƣới sự tác động của các yếu tố tự nhiên hay nhân tác từ bên z6 ngoài. Tính chống chịu đƣợc định nghĩa theo hai cách: - Là khoảng thời gian cần thiết mà một HST có thể hồi phục trạng thái ban đầu / trạng thái ổn định sau khi bị môt tác động từ bên ngoài (một số tác giả còn gọi đó là tính ổn định (stability) hay khả năng thích ứng (adaptive capacity/adaptability). Định nghĩa này cũng đƣợc sử dụng trong một số lĩnh vực khác nhƣ Vật lý, Kỹ thuật.
- Khả năng của một hệ thống hoá giải đƣợc những tác động bên ngoài và tự tổ chức lại những thay đổi xảy ra sao cho vẫn bảo toàn đƣợc cấu trúc, chức năng, đặc tính và những phản hồi của hệ. Trong định nghĩa này, tính chống chịu đƣợc đo bằng lƣợng của yếu tố tác động, và còn đƣợc gọi là “tính chống chịu sinh thái” (ecological resilience), nó ám chỉ trạng thái/chế độ ổn định đa chiều của HST (Trƣơng Quang Học, 2011c, 2013). Hệ xã hội (Social system) bao gồm tất cả các sản phẩm khác nhau của văn hóa con ngƣời ở mức độ quần thể, bao gồm các yếu tố chính: dân số, văn hóa, sản phẩm vật chất, tổ chức xã hội, và thể chế xã hội…Tuy sống trong xã hội nhƣng con ngƣời vẫn luôn luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên, tác động và khai thác tài nguyên ngày càng nhiều để phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống ngày càng cao của mình. Từ đó, dần hình thành các Hệ sinh thái nhân văn (Human ecology) (Lê Trọng Cúc, 1995; Trƣơng Quang Học, 2011c, 2013).
Hệ sinh thái - xã hội (Socio-ecological system): là một biến thể của HST nhân văn, nhấn mạnh yếu tố xã hội của loài ngƣời và đƣợc định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con ngƣời và tự nhiên, một đơn vị Sinh - Vật - Địa và các yếu tố xã hội, thể chế đi kèm. Hệ sinh thái - xã hội là hệ thống phức tạp nhất, trong đó, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trƣng khác nhau đƣợc nhấn mạnh (Trƣơng Quang Học, 2013). Con ngƣời, theo quan niệm hiện đại, đã trở thành trung tâm của HST, với hai nghĩa: i) Con ngƣời là nhân tố tác động vào HST một cách mạnh mẽ nhất, và ii) Các hoạt động bảo tồn HST cuối cùng vẫn phải hƣớng tới và đem lại phúc lợi cho con ngƣời (MEA, 2005). Tính chống chịu – thích ứng (Adaptive resilience): Giữa tính dễ bị tổn thƣơng, tính chống chịu và tính thích ứng của HST có mối liên quan với nhau (mối quan hệ trong nội bộ hệ thống) và liên quan với yếu tố tác động (tần xuất, cƣờng độ, tính chất của các tác động từ bên ngoài.
Trong thực tế, thì hai quá trình chống chịu và thích ứng xảy ra xen kẽ với nhau. z7 Khi sự chống chịu xảy ra thì cũng là lúc bắt đầu có quá trình thích ứng, và sự thích ứng sẽ làm tăng khả năng chống chịu. Vì vậy, thuật ngữ tính chống chịu - thích ứng (Adaptive resilience) đặc trƣng cho các HST, vừa nói lên khả năng chống chịu ở thời điểm bị tác động, vừa nói nên khả năng tự phục hồi lại trạng thái ban đầu sau khi bị tác động. Từ đó, có thể nói khi tính chống chịu- thích ứng của một HST tăng sẽ làm giảm tính dễ bị tổn thƣơng và rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống.
Vì thế, xây dựng/tăng cƣờng tính chống chịu của hệ thống là nguyên tắc chung nhất nhằm phát triển hệ thống một cách bền vững và ứng phó hiệu quả với những tác động từ bên ngoài (Trƣơng Quang Học, 2013). Sinh kế bền vững (Sustainable livelihood): một sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tƣơng lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên (DFID, 2007). Sinh kế thích ứng (với BĐKH) (Climate change adaptive livelihood): Sinh kế thích ứng là hệ thống sinh kế, trƣớc hết phải có khả năng chống chịu với BĐKH/ giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trƣớc các tác động của BĐKH, đặc biệt là thiên tai/hiện tƣợng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, v.v), đảm bảo, duy trì hoặc tăng năng suất/ sản lƣợng một cách ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện KT-XH địa phƣơng (CARE, 2013; ELAN, 2011). Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái (Ecosystem based approach/EbA) Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái đã đƣợc phát triển từ những năm 90 của thế kỷ XX, là chiến lƣợc do Công ƣớc đa dạng sinh học (CBD) đề xuất, ban đầu nhằm mục đích phục vụ cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo tồn ĐDSH, sau đó đƣợc áp dụng rộng rãi cho PTBV và hiện nay cho ứng phó với BĐKH, theo nguyên tắc xây dựng/tăng cƣờng tính chống chịu-thích ứng của các hệ sinh thái - xã hội (Trƣơng Quang Học, 2008b, 2012, 2013).
Cách tiếp cận dựa trên HST nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa HST/dịch vụ HST với phúc lợi của con ngƣời. Con ngƣời, một mặt, sống nhờ vào HST thông qua các dịch vụ của nó, gồm: (i) Dịch vụ cung cấp, Dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa-tinh thần và dịch vụ z8 hỗ trợ; Mặt khác, con ngƣời lại tác động vào hệ HST thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp và các hoạt động phát triển KT-XH, chính sách, làm suy thoái HST/ĐDSH.