phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn đƣợc bố cục làm 3 chƣơng sau đây: Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu, chƣơng này đề cập những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến BĐKH và các đặc trƣng mùa lũ ở đầu nguồn sông Cửu Long, vùng Đồng Tháp Mƣời-Tứ giác Long Xuyên. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và số liệu, chƣơng này trình bày phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong luận văn, chi tiết về số liệu dùng để tính toán, nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận, chƣơng này đƣa ra kết quả nghiên cứu về xu thế biến đổi của một số đặc trƣng mùa lũ ở đầu nguồn sông Cửu Long, vùng Đồng Tháp Mƣời-Tứ giác Long Xuyên trong quá khứ và các tác động tiềm tàng của BĐKH đến các đặc trƣng mùa lũ ở đầu nguồn sông Cửu Long, vùng Đồng Tháp Mƣời-Tứ giác Long Xuyên trong tƣơng lai. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về sông Mê Công và vùng đầu nguồn sông Cửu Long 1. Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Mê Công Sông Mê Công chảy qua 6 nƣớc (Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam), đứng hàng thứ 10 Thế giới về tổng lƣợng dòng chảy (475 tỷ m3), hàng thứ 12 thế giới về diện tích lƣu vực (795.000 km2), bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, qua các vùng đồi núi của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và Myanmar, rồi đi vào vùng trung, hạ lƣu thuộc Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam rồi đổ ra biển Đông (hình 1. Sông Mê Công chảy chủ yếu theo hƣớng Bắc-Nam, qua nhiều vùng địa hình phức tạp.
Độ dốc lòng sông trung bình 1,10/0000. Dòng chính đƣợc bổ sung nguồn nƣớc từ nhiều nhánh sông, suối lớn, nhỏ, có diện tích lƣu vực từ vài trăm đến vài chục nghìn km2, phân bố khá đều hai bên bờ, nhƣ Nậm Ngủm, Nậm Thà, Sêbang Hiêng, Sêbang Phai, Sê San, SrePock. ở bên trái và Nậm Songkhran, Nậm Mun, Nậm Chi. Thƣợng lƣu Mê Công có chiều dài gần 1.800 km, diện tích gần 200.000 2 km , địa hình núi cao hiểm trở, lòng sông nhiều thác ghềnh.
Vùng trung lƣu đƣợc tính từ Chiang Saen xuống tới Kratie (Campuchia) chiếm 57% diện tích lƣu vực (453. Có 20 sông nhánh cấp I, trong đó 13 sông nằm ở tả ngạn và 7 sông nằm hữu ngạn sông Mê Công. Hạ lƣu sông Mê Công đƣợc tính từ Kratie và kéo dài tới biển Đông, với diện tích 198.800 km2, chiếm 24% diện tích lƣu vực. Ngay sau ngã ba hợp lƣu với sông Tonle Sap (sông nối dòng chính với Biển Hồ tại Phnom Penh, Biển Hồ là một hồ chứa nƣớc tự nhiên có lƣu vực 85.000 km2, dung tích khoảng 85 tỷ m3, diện tích mặt nƣớc biến đổi từ 3.000 km2, hàng năm nhận từ sông Mê Công khoảng 49 tỷ m3 nƣớc vào mùa lũ và cùng với dòng chảy do chính lƣu vực sinh ra, bổ sung trung bình khoảng 80 tỷ m3 nƣớc cho hạ lƣu từ sau đỉnh lũ cho đến đầu mùa mƣa năm sau), Mê Công chia thành hai nhánh chảy vào Việt Nam là sông Tiền (Mê Công) và sông Hậu (Bassac).
Sông Tiền chảy qua Tân Châu, Sa Đéc, Mỹ Thuận rồi đổ ra biển Đông bằng 6 cửa là Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu. Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ và đổ ra biển Đông bằng 2 cửa là Định An và Trần Đề (cửa thứ 9 là Bát Thát, đã bị bồi lấp khoảng 100 năm trƣớc). Vì vậy, sông Mê Công khi chảy vào Việt Nam đƣợc gọi 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là sông Cửu Long; khu vực ĐTM, TGLX và vùng giữa hai sông đƣợc gọi là VĐNSCL. Bản đồ lƣu vực sông Mê Công [4].
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tỷ lệ diện tích của các nƣớc đóng góp vào lƣu vực sông Mê Công nhƣ sau: Trung Quốc 120.400km2 (26,1%); Thái Lan 184.700 km2 (19,5%); Việt Nam 65. Đặc điểm thủy văn sông Mê Công Tỷ lệ đóng góp dòng chảy sông Mê Công giữa thƣợng-hạ lƣu là 18%/82%, trong khi tỷ lệ diện tích là 25%/75%. Tuyết tan vào Xuân-Hè là nguồn cung cấp đáng kể và khá ổn định cho dòng chảy cạn ở phần thƣợng lƣu. Dòng chảy ở Trung và hạ lƣu sông Mê Công đƣợc hình thành bởi nƣớc mƣa.
Mƣa biến đổi lớn theo năm và mùa, do vậy, dòng chảy hạ lƣu có sự biến động nhiều hơn. Hàng năm, sông Mê Công tải qua mặt cắt Kratie khoảng 380 tỷ m3 nƣớc, với lƣu lƣợng trung bình khoảng 12. Dòng chảy trên sông đoạn trƣớc Kratie đƣợc phân thành hai mùa tƣơng phản khá sâu sắc: Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11, chiếm đến 90% tổng lƣợng nƣớc hàng năm, với tháng 8 và tháng 9 lớn hơn cả; mùa kiệt từ tháng 12 năm trƣớc đến tháng 5 năm sau, chiếm 10% tổng lƣợng nƣớc còn lại, trong đó tháng 3 và tháng 4 có lƣợng dòng chảy thấp nhất. Dọc theo dòng chính, tỷ lệ trung bình tháng cao nhất so với tháng thấp nhất là khoảng 10-20 lần và trung bình 3 tháng cao nhất và 3 tháng thấp nhất là 7-15 lần.
Lũ sông Mê Công thƣờng nhiều đỉnh, với đỉnh lớn nhất trong năm rơi vào khoảng từ tháng 7 đến tháng 9. Lũ ở thƣợng lƣu và trung lƣu sông Mê Công mang tính chất lũ miền núi với biên độ lớn, lên xuống nhanh, đƣợc truyền về hạ lƣu với tốc độ khá cao ở đoạn Chiang Sean-Pakse (8-10km/h), chậm dần ở đoạn Kratie-Phnom Penh (2-4km/h). Từ dƣới Kratie, sông Mê Công chảy trong vùng đất thấp, có địa hình bằng phẳng, đôi khi hơi gợn sóng, với đa số độ dốc đều nhỏ hơn 2%, đối với vùng này thì địa hình ven sông thấp và hình thành các bãi tràn thoát lũ rộng. Vào tháng 6, khi sông Mê Công bắt đầu có lũ thì nƣớc từ sông chính theo sông Tonle Sap chảy ngƣợc vào Biển Hồ.
Thời gian chảy ngƣợc duy trì cho đến tháng 9, tháng 10, khi lũ trên sông chính vƣợt qua đỉnh cao nhất trong năm. Từ tháng 10, tháng 11, nƣớc từ Biển Hồ bắt đầu chảy ra sông, bổ sung cho dòng chảy vào đồng bằng từ khi qua đỉnh lũ cho đến cuối mùa lũ và gần suốt cả mùa kiệt. Sông Mê Công từ Phnom Penh ra biển có chế độ thủy văn khác hẳn phần thƣợng lƣu do tác động của thủy triều biển Đông với biên độ cao. Trong mùa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiệt, từ tháng 1 đến tháng 6, thủy triều chi phối toàn bộ chế độ mực nƣớc và lƣu lƣợng hệ thống sông-kênh đồng bằng.
Mùa lũ, do nƣớc thƣợng lƣu về nhiều, chế độ dòng chảy cũng có những biến đổi nhất định. Mùa lũ ở ĐBSCL kéo dài từ tháng 7, tháng 8 đến tháng 11, tháng 12. Từ tháng 11, tháng 12, dòng chảy trên sông không còn đƣợc bổ cập từ nƣớc mƣa và hạ thấp dần cho đến thấp nhất vào khoảng tháng 3, tháng 4. Tổng quan Vùng đầu nguồn sông Cửu Long 1.
Đặc điểm địa lý tự nhiên VĐNSCL ĐBSCL là đồng bằng lớn nhất của Việt Nam nằm ở hạ lƣu lƣu vực sông Mê Công, chiếm 79% diện tích toàn bộ các châu thổ và bằng khoảng 5% diện tích toàn lƣu vực sông Mê Công. ĐBSCL là đồng bằng quan trọng nhất nƣớc ta, với diện tích đất tự nhiên khoảng 4. ĐBSCL bao gồm 13 tỉnh/thành, dân số khoảng 17,590 triệu ngƣời, mật độ 494 ngƣời/km2, trong đó có khoảng 1,3 triệu ngƣời dân tộc Khmer sống tập trung ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, An Giang và Kiên Giang. VĐNSCL nằm ở phía Bắc ĐBSCL, bao gồm vùng Đồng Tháp Mƣời, Tứ giác Long Xuyên và vùng giữa sông Tiền, sông Hậu, về mặt hành chính bao gồm các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ.
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn vùng là 2.167,7 triệu ha (chiếm 53,42% diện tích ĐBSCL) , trong đó đất nông nghiệp 1.603,9 triệu ha (73,99% diện tích đất tự nhiên), đất lâm nghiệp 154,1 triệu ha (7,11%), đất chuyên dùng 154,6 triệu ha (7,13%), đất ở 85,2 triệu ha (5,5%); dân số 10.000 ngƣời, chiếm 57,22% dân số vùng ĐBSCL, mật độ dân số là 464 ngƣời /km2 [2]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bản đồ vùng Đồng bằng sông Cửu Long [3]. Trong đó: - Vùng ĐTM có diện tích tự nhiên là 743.691ha, bao gồm 3 tỉnh: Đồng Tháp 235.000ha; Long An 345.000ha và Tiền Giang 166.000ha; diện tích này bằng 72% diện tích tự nhiên của 3 tỉnh trên cộng lại.
ĐTM là vùng trũng nên hầu nhƣ năm nào cũng bị ngập lũ, thời gian kéo dài từ 3-4,5 tháng, diện tịch ngập trên 600.000ha, mức độ ngập khác nhau từ 0,5-3m. - Vùng TGLX có diện tích tự nhiên là 500.596ha, bao gồm: An Giang (7 huyện/thị) 245.085ha, Kiên Giang (6 huyện/thị) 240.333ha và Cần Thơ (huyện Vĩnh Thạnh) 15. Vùng này khá bằng phẳng, địa hình dạng lòng chảo. - Vùng giữa hai Sông bao gồm các tiểu vùng: Bắc Kênh Vĩnh An 35.474ha, Bắc Vàm Nao 54.014ha, Chợ Mới 36.962ha, Bắc Mang Thít 171.
Đặc điểm địa hình VĐNSCL có địa hình bằng phẳng, phần lớn có cao độ trung bình từ 0,7- 1,2m, ngoại trừ một số đồi núi cao ở phía Bắc thuộc tỉnh An Giang. Dọc theo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biên giới Campuchia có địa hình cao hơn cả, cao trình từ 2,0-4,0m, sau đó thấp dần vào khu trung tâm ở cao trình 1,0-1,5m. Đặc điểm khí hậu Khí hậu VĐNSCL mang tính chất khí hậu gió mùa cận xích đạo, có hai mùa gió chủ yếu là gió mùa Tây-Nam và gió mùa Đông-Bắc. Mùa gió mùa Đông Bắc thƣờng bắt đầu từ tháng 9 năm trƣớc đến hết tháng 4 năm sau, hình thành một mùa khô cạn rõ rệt.
Gió mùa Tây-Nam tạo nên mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 9, tháng 10. a) Đặc điểm nhiệt độ không khí VĐNSCL có chế độ nhiệt độ cao và ổn định. Nhiệt độ không khí khá cao, trung bình ngày trong cả năm từ 26,6-27,60C. Biên độ nhiệt độ trung bình năm ở khu vực dao động trong khoảng 2-30C; biên độ nhiệt độ trung bình của tháng có trị số lớn nhất so với tháng có trị số thấp nhất chỉ lệch nhau có 3,4 0C.
Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng phổ biến từ 28-340C. Tháng 4 là tháng có nhiệt độ cao nhất trung bình và nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cao nhất trong năm; tháng 12 có nhiệt độ cao nhất trung bình và nhiệt độ cao nhất tuyệt đối thấp nhất trong năm. Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tháng phổ biến từ 31-380C; nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng phổ biến từ 22-260C.