CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm cơ bản BĐKH (Climate Change): Là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. BĐKH hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).
Đánh giá tác động của BĐKH (Climate Change Impact Assessment): Là nghiên cứu xác định các ảnh hưởng của BĐKH lên môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương. Ngoài các ảnh hưởng bất lợi còn có thể có các ảnh hưởng có lợi. Đánh giá tác động của BĐKH cũng bao gồm việc xác định và đánh giá các giải pháp thích ứng với BĐKH (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, 2011). Hệ sinh thái (Ecosystem): Là một tổ hợp hoạt động của quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật, và các điều kiện môi trường vô sinh xung quanh trong sự tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng thông qua các dòng năng lượng và các chu trình vật chất (Trương Quang Học và nnk, 2015).
Hệ sinh thái – xã hội (Social-Ecological System): Là một biến thể của hệ sinh thái nhân văn, nhấn mạnh yếu tố xã hội của loài người và được định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con người và tự nhiên, một đơn vị Sinh-Vật-Địa và các yếu tố xã hội, thể chế kèm theo. Hệ sinh thái – xã hội là hệ thống phức tạp nhất, trong đó, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trưng khác nhau được nhấn mạnh (Ostrom, 2009). Cách tiếp cận dựa vào hệ sinh thái (Ecosystem-based Approach - EbA): Được phát triển từ những năm 90 của thế kỷ XX, là chiến lược do Công ước ĐDSH đề xuất, ban đầu nhằm mục đích phục vụ cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo tồn ĐDSH, sau đó được áp dụng rộng rãi cho PTBV và hiện nay cho ứng phó với BĐKH, theo nguyên tắc xây dựng/tăng cường tính chống chịu – thích ứng của các hệ sinh thái – xã hội (Trương Quang Học và nnk, 2015). ĐDSH (Biodiversity): Là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ (LUAN.nam 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó (United Nations, 1992).
Thuật ngữ ĐDSH này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau. Theo Luật ĐDSH số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội Việt Nam thì ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Khả năng chống chịu (Resilience): Là khả năng của một hệ thống (ví dụ, một hệ sinh thái – xã hội) có thể chịu được các tác động, các nhiễu loạn mà không bị phá vỡ và chuyển sang một trạng thái chuyển biến về chất khác. Một hệ thống có khả năng chống chịu có thể hấp thu các nhiễu loạn, thay đổi hoặc điều chỉnh, sau đó tái tổ chức và vẫn giữ được các cấu trúc cơ bản và cách vận hành của nó 1 (Trương Quang Học, 2012; Hoàng Thị Ngọc Hà và Trương Quang Học, 2015).
Năng lực thích ứng (Adaptative Capacity): Là khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảm nhẹ các thiệt hại tiềm tàng, tận dụng các cơ hội, hoặc đương đầu với các hậu quả (Parry et al, 2007); hoặc là sự điều chỉnh của hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm làm giảm khả năng bị tổn thương và tận dụng các cơ hội (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008). Chỉ số chống chịu thiên tai khí hậu (Climate Disaster Resilience Index – CDRI): Là bộ công cụ gồm các chỉ số dùng để đánh giá khả năng chống chịu thiên tai khí hậu. CDRI gồm 5 thông số: tự nhiên, vật chất, xã hội, kinh tế và thể chế. Mỗi thông số bao 1 https://www.org/commissions/commission-ecosystem-management/our-work/cems-thematic- groups/resilience (LUAN.nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam gồm 5 tiêu chí mô tả chi tiết thông số đó.
Mỗi tiêu chí lại bao gồm 5 chỉ số. Tổng cộng bộ công cụ này có 125 chỉ số (Shaw, 2009). Xây dựng khung phân tích vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu này đánh giá tác động của BĐKH đến hệ sinh thái – xã hội, với quy mô thời gian hồi cứu số liệu là 40 năm, từ 1978 đến 2017, và quy mô không gian tại xã Tà Bhing, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Theo Trương Quang Học (2012), hệ sinh thái – xã hội là một biến thể của hệ sinh thái nhân văn, nhấn mạnh yếu tố xã hội của loài người và được định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con người và tự nhiên.
Yếu tố xã hội phải được xem xét trong bối cảnh và môi trường sinh thái, con người nằm trong tự nhiên chứ không tách rời con người khỏi tự nhiên. Giữa hệ sinh thái và hệ xã hội có sự tương tác lẫn nhau. Con người khai thác các chức năng và dịch vụ do hệ sinh thái cung cấp, đồng thời lựa chọn thiết lập xã hội, xây dựng thể chế, chính sách, quản trị phù hợp để bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái đó. Ngược lại, hệ sinh thái quy định cách thức tồn tại và phát triển của hệ xã hội, làm nền tảng cho cuộc sống của con người.
Nếu con người sử dụng các dịch vụ hệ sinh thái trên nền tảng bảo tồn, thì mối quan hệ tương tác giữa hệ sinh thái và hệ xã hội ngày càng bền vững. Đây cũng là quan điểm của cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái. Vì vậy hệ sinh thái – xã hội được phân tích dựa trên các đặc trưng của hệ sinh thái (đặc trưng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, khí hậu) và của hệ xã hội (đặc trưng về kinh tế, xã hội, văn hóa, sinh kế) đặt trong bối cảnh sinh thái đó. Hệ sinh thái – xã hội này được phân chia thành các tiểu vùng sinh thái – xã hội có quy mô nhỏ hơn, nhằm đảm bảo nghiên cứu được chi tiết, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp hơn theo kiểu “đo ni đóng giày”.
Tác động của BĐKH được xem xét đánh giá đối với môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương, ở thời điểm hiện tại và trong tương lai theo kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT). Tác động của BĐKH được xem xét ở các yếu tố bất lợi cũng như có lợi. Sau khi đánh giá được tác động của BĐKH đến hệ sinh thái – xã hội, học viên tiếp tục đánh giá khả năng chống chịu khí hậu của hệ sinh thái – xã hội, hay tình trạng sức khỏe của hệ sinh thái – xã hội thông qua năm nguồn lực bằng bộ công cụ CDRI: vật chất/cơ sở hạ tầng, xã hội, kinh tế, thể chế và tự nhiên. Căn cứ mức độ tác động của BĐKH và khả năng chống chịu của hệ sinh thái – xã hội, tìm hiểu các điểm mạnh, (LUAN.nam 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa, học viên đề xuất định hướng giải pháp ứng phó dựa trên hệ sinh thái.
Các giải pháp này sẽ tập trung vào giảm thiểu các áp lực lên hệ sinh thái, sử dụng khôn khéo hệ sinh thái và ĐDSH để giảm phát thải khí nhà kính, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và các bên có liên quan, tăng cường công tác quản trị, cũng như xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức. Các giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, đảm bảo an sinh xã hội đồng thời góp phần bảo tồn ĐDSH, tài nguyên thiên nhiên. Đây cũng chính là ba trụ cột của PTBV, từ đó góp phần giảm nhẹ BĐKH, giảm thiểu các tác động bất lợi và tận dụng các tác động có lợi của BĐKH, đồng thời tăng cường khả năng chống chịu của hệ sinh thái – xã hội khu vực nghiên cứu. Tất cả các phân tích trên được tổng hợp và sơ đồ hóa theo Hình 1.nam 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Sơ đồ khung phân tích vấn đề nghiên cứu Người thực hiện: Học viên Nguyễn Thị Bích Ngọc, BĐKH K6 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan tài liệu Tổng quan tài liệu tập trung vào năm nội dung chính: i) Hệ sinh thái – xã hội, ii) Phân vùng sinh thái – xã hội, iii) Cách tiếp cận dựa vào hệ sinh thái, iv) Đánh giá tác động của BĐKH, và v) Đánh giá khả năng chống chịu khí hậu. Các nội dung này sẽ được tổng quan theo các nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam và tại khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu trên thế giới Hệ sinh thái – xã hội Khái niệm hệ sinh thái – xã hội (social-ecological system) được tổng hợp tương đối đầy đủ lần đầu tiên bởi Fikret Berkes, Carl Folke và Johan Colding năm 1998, trong cuốn sách “Linking Social and Ecological Systems”.
Theo đó, hệ sinh thái – xã hội được định nghĩa là hệ thống liên kết giữa con người và tự nhiên, nhấn mạnh con người phải được xem là một phần của tự nhiên (People-in-nature), chứ không phải đứng ngoài tự nhiên (People-with-nature) (Berkes and Folke, 1998). Đến năm 2003, Berkes, Colding và Folke cho ra đời sách “Navigating social – ecological systems”, kéo theo sự tăng trưởng nhảy vọt trong các nghiên cứu về hệ sinh thái – xã hội. Số lượng các nghiên cứu giai đoạn 1985 – 2010 được thể hiện trong Hình 1. Số lượng các nghiên cứu về hệ sinh thái – xã hội giai đoạn 1985-2010 Nguồn: Perez-Soba and Dwyer, 2016 Khái niệm này sau đó đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác nhau, với nhiều phiên bản định nghĩa, được Redman, C.
(2004) tổng hợp lại như sau: (LUAN.nam 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam - Là hệ thống gắn kết các yếu tố sinh thái và xã hội thường tương tác với nhau một cách chống chịu và bền vững; - Được định nghĩa theo nhiều quy mô thời gian, không gian và tổ chức khác nhau, có thể liên kết với nhau theo thứ bậc; - Là một tập hợp bao gồm các nguồn lực quan trọng (tự nhiên, kinh tế xã hội và văn hóa), mà việc sử dụng các nguồn lực này được quy định bởi một phức hệ sinh thái và xã hội; - Là một hệ thống phức tạp và năng động không ngừng, có năng lực thích ứng liên tục (Redman, Grove and Kuby, 2004). Hệ sinh thái – xã hội trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều tổ chức quốc tế.