Chương 1: Giới thiệu – Giới thiệu khái quát tình hình thực tế mô hình BHĐC ở Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng, khái quát sự hình thành đề tài, từ đó đưa ra mục tiêu của đề tài, phạm vi nghiên cứu của đề tài và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Trình bày các cơ sở lý thuyết về BHĐC, lý thuyết hành vi của người tiêu dùng, các mô hình đo lường được sự hài lòng của khách hàng. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu để đánh giá thực trạng của người tham gia BHĐC tại TPHCM. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Giới thiệu quy trình, các phương pháp và cách thiết kế nghiên cứu: các dữ liệu cần thu thập, các nguồn thu thập thông tin, xác định kích cỡ mẫu và phương pháp tiếp cận mẫu.
Ngoài ra phần này trình bày việc xây dựng thang đo và bảng câu hỏi cho mô hình cần nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu – Chương này tập trung vào nội dung chính của đề tài, trình bày kết quả phân tích về thực trạng BHĐC tại TPHCM, về sự hài lòng của người tham gia BHĐC qua dữ liệu thu thập được từ các cuộc phỏng vấn định tính, phỏng vấn định lượng. Từ đó đưa ra những kết luận về nghiên cứu. Chương 5: Kết luận – Dựa trên kết quả phân tích có được của chương 4, từ đó đưa ra những kết luận và đề xuất giải pháp để nâng cao dịch vụ, tăng sự tin tưởng cho người tham gia BHĐC.
Kết thúc chương là các điểm hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo. Ngoài ra còn các nội dung: - Tài liệu tham khảo, nguồn trích dẫn dữ liệu. - Các phụ lục: Phân biệt BHĐC và BHĐC bất chính, các bảng câu hỏi phỏng vấn định tính và bảng câu hỏi định lượng, danh sách các doanh nghiệp BHĐC tại TPHCM, kết quả kiểm định thang đo, phân tích nhân tố, hồi quy đa biến. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2.
Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của BHĐC 2. Khái niệm BHĐC Tại khoản 11 Điều 3 của Luật Cạnh tranh đã định nghĩa: “BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia BHĐC gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau; b) Hàng hóa được người tham gia BHĐC tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia; c) Người tham gia BHĐC được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia BHĐC cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp BHĐC chấp thuận.” [5] BHĐC là một cái tên mà pháp luật quy định dùng. Nhưng tùy vào đối tượng đang nói về nó mà BHĐC có thể mang những cái tên rất khác nhau. Tại Việt Nam, Kinh doanh theo mạng; Kinh doanh đa cấp; Tiếp thị đa cấp; Bán hàng trực tiếp hay BHĐC (tên gọi thông dụng) là những tên gọi đều được dùng để chỉ cho mô hình kinh doanh này.
Những đặc trưng cơ bản của BHĐC - Đây là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia BHĐC gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau; người tiêu dùng trực tiếp đến mua hàng tại công ty (hoặc qua một NPP duy nhất) mà không phải thông qua các đại lý hay cửa hàng bán lẻ. Doanh nghiệp BHĐC thường là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hàng hóa do đó sản phẩm là chính gốc. - BHĐC tiết kiệm rất nhiều chi phí từ việc quảng cáo, khuyến mại, tiền sân bãi, kho chứa, vận chuyển hàng hóa do phương thức hoạt động như trên. Số tiền tiết kiệm này được dùng để trả thưởng cho NPP và nâng cấp, cải tiến sản phẩm tiếp tục phục vụ người tiêu dùng.
- Đây là phương thức kinh doanh tận dụng chính thói quen của người tiêu dùng: khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ tốt thường đem chia sẻ cho người thân, bạn bè và những người xung quanh. BHĐC gây ra nhiều tranh cãi trong xã hội và thường được quy kết với “hình tháp ảo”. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - NPP là người tham gia BHĐC và có vai trò như những đại lý. Họ dùng mối quan hệ của bản thân và những người quen biết để thu hút khách hàng.
Ngoài ra họ còn có thể tìm kiếm những đối tác khác, trở thành NPP cùng làm việc với mình, việc này được quản lý bằng mã số. - NPP được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia BHĐC cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp BHĐC chấp thuận. - Sản phẩm của một công ty BHĐC phải có chất lượng tốt, cần thiết cho hầu hết người tiêu dùng và được sử dụng thường xuyên và sẽ liên tục sau đó. Do đó các sản phẩm của các Công ty BHĐC thường là: Hàng tiêu dùng; Mỹ phẩm; Thực phẩm và Thực phẩm dinh dưỡng chức năng,… Ngoài ra, sản phẩm phải đảm bảo tính độc quyền và độc đáo, nghĩa là chỉ bán thông qua các nhà phân phối của công ty, không bán rộng rãi trên thị trường và không có sản phẩm tương tự.
Mô hình hoạt động BHĐC Về cơ bản, các mô hình BHĐC gồm nhiều tầng, cấp tuy nhiên có sự sắp xếp và quy định khác nhau ở mỗi mô hình. Các công ty BHĐC đều có mục đích hàng đầu là phát triền mạng lưới. Nhưng do đặc thù quản trị và những mục tiêu cụ thể của mỗi công ty nên các công ty thiết kế cho mình một mô hình kinh doanh và các NPP của công ty dựa vào đó để xây dựng mạng lưới cho mình. Trên thế giới có hàng chục ngàn công ty BHĐC và có một số lượng rất lớn mô hình hoạt động, tuy nhiên, chúng là những kết hợp hoặc là những biến tấu của các mô hình: Mô hình đơn cấp, mô hình bậc thang, mô hình bậc thang ly khai, mô hình ly khai, mô hình nhị phân, mô hình ma trận, mô hình đều tầng.
Đề tài xin nêu 4 mô hình cơ bản nhất của các công ty BHĐC tại Việt Nam: Mô hình ma trận, mô hình nhị phân, mô hình đều tầng và mô hình bậc thang ly khai. Mô hình Nhị phân • Khái niệm: Mô hình nhị phân là một dạng mô hình ma trận nhưng NPP chỉ được bảo trợ 2 NPP thuộc cấp 1, tạo ra hai nhánh của mạng tham gia cấp dưới và xây dựng mạng lưới trên hai nhánh này. [9, 15] • Đặc trưng: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - NPP có 2 nhánh gọi là “chân”, khi NPP đăng kí người mới vào nhóm của mình. NPP có thể đặt người mới vào chân trái hoặc chân phải, tuy nhiên tùy theo yêu cầu của từng công ty cho phép NPP sắp xếp hoặc người bảo trợ của NPP thực hiện.
Chiều dài của các nhánh thường không bị giới hạn. - Hoa hồng mà người tham gia được hưởng không bị giới hạn bởi chiều sâu. - Khi NPP đáp ứng được yêu cầu cân chân (hai nhánh bằng nhau) mới có thể nhận được hoa hồng lớn nhất, nghĩa là NPP chỉ có thể nhận được hoa hồng dựa trên tổng doanh số của nhánh yếu. Điều này yêu cầu NPP sở hữu mạng lưới này muốn có hoa hồng cao phải cố gắng cân bằng hai nhánh với nhau và có sự giúp đỡ lớn hơn với cấp dưới.
Phần chênh lệch hoa hồng giữa hai nhánh do công ty nắm giữ. - Cho phép NPP có nhiều hơn một vị trí trong mạng lưới, có thể từ 2 - 7 vị trí. - Có quan niệm mô hình này chính là mô hình ma trận với hai cột n tầng. • Ưu điểm và nhược điểm: Ưu điểm: - Đơn giản, dễ phân tích, dễ giới thiệu và rất dễ hút người tham gia.
- Không giới hạn số cấp trả thưởng và số cấp dưới của NPP. - Duy trì sự năng động giúp đỡ của cấp trên với cấp dưới, có sự quan tâm tới sự phát triển hệ thống của mình. Nhược điểm: - Gây tranh cãi vì người vào trước luôn có lợi hơn người vào sau. - Tạo ra sự ỷ lại của cấp dưới vào cấp trên, khó cân bằng sự phát triển hai nhánh.
- Khu vực có điều kiện kinh tế kém và dân trí thấp là những nơi mô hình Nhị phân rất dễ bành trướng và bị biến tướng. Mô hình ma trận • Khái niệm: Mô hình ma trận là mô hình quy định NPP được tuyển nhiều hơn con số 2 người thuộc cấp 1 nhưng hạn chế số người trong cấp một của NPP và số cấp được hưởng hoa hồng tùy theo chính sách của từng công ty. Mô hình này được nâng cấp từ mô hình nhị phân. [9, 15] 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Mô hình ma trận • Đặc trưng: - Quy định số lượng người tối đa trong cấp dưới trực tiếp của NPP đồng thời cũng quy định số tầng tối đa mà mỗi NPP có thể được hưởng hoa hồng. - Quy định kích thước tối đa của một mạng lưới phân phối của một NPP. Cụ thể một mô hình ma trận m x n quy định mỗi NPP không được phép có quá m người thuộc cấp dưới trực tiếp và được hưởng hoa hồng tính trên số lượng tầng không vượt quá n. Khi một NPP đã có m người ở cấp dưới trực tiếp, NPP vẫn có thể giới thiệu người khác vào mạng lưới của mình nhưng những người này được phân bổ vào những chỗ còn trống trong mạng lưới của cấp dưới trực tiếp của NPP trên.
• Ưu điểm và nhược điểm: Ưu điểm: - Đơn giản, duy trì sự năng động giúp đỡ của cấp trên với cấp dưới. - NPP chỉ phải chăm lo, chịu trách nhiệm đào tạo người ở cấp một của NPP. - Mô hình thích hợp để sử dụng phân phối các sản phẩm đặc thù mà tính xoay vòng sản phẩm nhỏ hoặc không có, để tránh sự bão hòa của thị trường. Nhược điểm: - Có sự hạn chế quy mô mạng lưới, phân phối ‘bình quân hóa’.
- NPP sẽ chỉ được trả hoa hồng tới một cấp giới hạn nhất định. - Tính thống nhất (đoàn kết) của đội nhóm bị hạn chế do một số chính sách của mô hình ma trận (hay nhị phân) cho phép tuyển vào số lượng không hạn chế (bù bắp thành viên nghỉ hoặc làm việc không hiệu quả).