CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về dịch vụ chăm sóc khách hàng tại gia 1. Khái niệm về dịch vụ chăm sóc khách hàng tại gia Theo Besiness Edge: “Chăm sóc khách hàng là tất cả những công việc cần thiết mà doanh nghiệp phải làm để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng, nghĩa là phụ vụ khách hàng theo cách mà họ mong muốn được phục vụ và làm những việc cần thiết để giữ chân khách hàng mình đang có” Công ty TM forum năm 2021 đã nghiên cứu về chất lượng chăm sóc khách hàng tại nhà đã đưa ra quan điểm dịch vụ chăm sóc khách hàng tại nhà (Home Customer Care Service) là hình thức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc khách hàng ngay tại nhà của khách hàng thay vì khách hàng phải đến cửa hàng hay trung tâm dịch vụ [23].
Chăm sóc khách hàng tại gia là dịch vụ hỗ trợ khách hàng tại nhà hoặc tại cơ sở kinh doanh của công ty. Điều này có nghĩa là nhân viên chăm sóc khách hàng sẽ đến trực tiếp tại nhà hoặc văn phòng của khách hàng để giải đáp các câu hỏi, hỗ trợ về sản phẩm hoặc dịch vụ, và xử lý các khiếu nại. Mục tiêu của chăm sóc khách hàng tại gia là tạo ra một trải nghiệm tốt cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ tốt giữa khách hàng và công ty. Đặc điểm dịch vụ viễn thông Viễn thông là từ việt hoá của từ "telecommunication" hoặc "telecom", nó có nghĩa là các hệ thống truyền thông từ xa, bao gồm các dịch vụ như điện thoại, tin nhắn, internet và các dịch vụ truyền tải dữ liệu khác.
Dịch vụ viễn thông là các dịch vụ liên quan đến truyền thông từ xa, bao gồm các dịch vụ như: điện thoại di động, truyền hình cáp, internet, tin nhắn văn bản và gọi video, dịch vụ truyền tải dữ liệu và các dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin. Chúng ta có thể sử dụng các dịch vụ viễn thông để giải quyết các nhu cầu liên lạc và truyền tải thông tin giữa các địa điểm xa. Dịch vụ viễn thông có những đặc điểm cơ bản của dịch vụ nói chung nhưng đồng thời măng những sắc thái riêng, đặc thù gắn với hoạt động của ngành viễn thông và nhu cầu của các chủ thể thụ hưởng dịch vụ viễn thông. Những đặc điểm đó bao gồm: sản phẩm dịch vụ không mang hình thái hiện vật, hay là sản phẩm vô hình; phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách nhà nước,luôn luôn thay đổi bởi yếu tố công nghệ và hạ tầng số không chia tách được, thiếu ổn định và không thể dự trữ được.
6 Dịch vụ viễn thông là sản phẩm vô hình. Hầu hết các dịch vụ viễn thông không thể sờ mó hoặc sử dụng trước khi mua, khách hàng chỉ có thể đánh giá hình dung được hàng hóa thông qua mô tả sơ luợc của gia đình hoặc người thân, Kiến thức nền tảng về sản phẩm viễn thông khá là nhiêu khê và đòi hỏi thời gian kỹ lưỡng về nghiên cứu sản phẩm. Sản phẩm dịch vụ viễn thông là một sản phẩm chủ đạo nhằm phục vụ nhu cầu xã hội “ Giao tiếp” của con người vì vậy sản phẩm dịch vụ viễn thông là loại sản phẩm hàng hoá đặc thù và đặc biệt, là dịch vụ truyền tải thông tin, không có tính vật thể. Không thể kiểm tra, trưng bày hoặc bao gói dịch vụ được.
Chưa kể dịch vụ đảm bảo được chất lượng hay không phụ thuộc hoàng toàn vào thiết bị phần cứng tương thích ( ví dụ mạng 4G phải đi kèm với điện thoại 4G hoặc thiết bị mạng 4G tương thích ). Khách hàng thường cảm thấy rủi ro hơn khi mua dịch vụ này so với các loại hàng hóa và dịch vụ khác và điều này cản trở trao đổi dịch vụ. Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vượt qua các hạn chế này để tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua các cửa hàng bán lẻ, hình ảnh tượng trưng và sử dụng các biểu tượng để thay thế hàng hóa vì bản thân hàng hóa không thể nhìn thấy hoặc cầm nắm được. Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông sẽ phải tạo ra các ý niệm hữu hình cho các dịch vụ của họ.
Nói chung, ngay cả những khách hàng có nhiều kinh nghiệm về dịch vụ viễn thông cũng khó lòng đánh giá khách giá trị của bất cứ dịch vụ nào. Sư hình dung và thỏa mãn của khách hàng theo mô típ tuyến tính tức là sự tương xứng của giá cả với sự hài lòng trải nghiệm dịch vụ. Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ viễn thông là không chia tách được: Quy trình sản xuất của dịch vụ viễn thông là quá trình liên không ngừng nghỉ, phải đảm bảo tính chất liên tục toàn trình, toàn mạng, đa tuyến tính, không thể phân cắt. Quá trình tạo lập dịch vụ và sư dụng dịch vụ phải diễn ra cùng một lúc với độ trễ thấp.
Khi một khách hàng đã sữ dụng dịch vụ viễn thông ( như nhấc ống nghe liên lạc được với người cần gặp ở đầu máy bên kia, bắt đầu tính năng dữ liệu di động 4G) là dịch vụ bắt đầu thực hiện được cuộc gọi, và anh ta bắt đầu phải trả tiền. Ngược lại, đối với dịch vụ viễn thông, nếu không có tiêu dùng dịch vụ thì hệ thống dịch vụ cũng không hoạt động. Trên thực tế hệ thống dịch vụ viễn thông ở từng công đoạn, từng thời gian hoạt động có sự gián đoạn, nhưng trong cả hệ thống dịch vụ thì luôn luôn hoạt động 24/24 giờ trong ngày. Vì vậy nếu khách hàng không sử dụng hết công suất phục vụ thì cũng xẩy ra sự lãng phí trong cả hệ thống.
Đây cũng là bài toán kinh tế cho các địa phương, doanh nghiệp và chính phủ trong xây dựng qui hoạch phát triển, điều hành sử dụng mạng lưới làm sao cho hợp lý, hiệu quả. Dịch vụ viễn thông buộc có tính không ổn định. Đối với xã hội, dịch vụ và người cung cấp dịch vụ là một. Khi một khách hàng đã sử dụng dịch vụ mà họ không đáp ứng được nhu cầu sử dụng , khả năng khách hàng thông cảm ngay cả khi biết rằng đây là 7 trục trặc thường xẩy ra rất ít.
Vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông có thể giảm tính không ổn định của dịch vụ bằng cách xây dựng thực hiện tốt tự động hoá các khâu trong cả hệ thống, thực hiện tiêu chuẩn hoá qui trình cung cấp dịch vụ, tăng cường đào tạo nhân viên và củng cố thương hiệu. Dịch vụ viễn thông không thể dự trữ được. Sản phẩm vòng quay nhanh, bán và thu tiền nhanh, phạm vi rộng. Hệ thống cơ sở hạ tầng của dịch vụ được dùng chung và thiết kế để có thể cung cấp một công suất nhất định tại bất cứ thời điểm nào.
Những khoảng thời gian nào đó dịch vụ không bán được cũng có nghĩa là bị thất thu vĩnh viễn. Thất thu còn xẩy ra khi hệ thống bị quá tải, nghĩa là khi người ta thấy máy nào cũng bận thì họ có thể sẽ không thực hiện cuộc gọi đó nữa hoặc hệ thống được xây dựng mới ở nơi hẻo lánh, ít dân cư dẫn đến không tối đa hóa hiệu năng. Tóm lại, dịch vụ viễn thông là sản phẩm vô hình vì các dịch vụ không thể sờ mó hoặc sử dụng trước khi mua. Dịch vụ viễn thông không chia tách được vì quá trình sản xuất và tiêu dùng của dịch vụ diễn ra cùng một lúc.
Dịch vụ viễn thông có tính không ổn định vì chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của nhà cung cấp. Dịch vụ viễn thông không thể dự trữ, cất vào kho được, thời lượng dịch vụ không bán được cũng có nghĩa là bị lãng phí. Những đặc điểm nêu trên có ảnh hưởng lớn tới hoạt động đầu tư vào ngành viễn thông. Customer care là dịch vụ hỗ trợ khách hàng.
Nó bao gồm các hoạt động như giải đáp các câu hỏi, xử lý các khiếu nại và giúp đỡ khách hàng trong việc sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ của một công ty. Mục tiêu chính của customer care là tạo ra một trải nghiệm tốt cho khách hàng, giúp họ giải quyết các vấn đề và tạo ra một mối quan hệ tốt giữa khách hàng và công ty. Dịch vụ chăm sóc khách hàng viễn thông là dịch vụ hỗ trợ khách hàng cho các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến viễn thông, chẳng hạn như điện thoại di động, internet, truyền hình cáp và các dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin khác. Nhiệm vụ chính của dịch vụ chăm sóc khách hàng viễn thông là giải đáp các câu hỏi, giúp đỡ khách hàng trong việc sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ, và xử lý các khiếu nại.
Mục tiêu của dịch vụ này là tạo ra một trải nghiệm tốt cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ tốt giữa khách hàng và công ty. Quy trình chăm sóc khách hàng tại gia của nhân viên kinh doanh Đối với các khách hàng có nhu cầu đăng ký mới dịch vụ các quy trình yêu cầu được thực hiện như sau: -Tìm hiểu về dịch vụ: Khách hàng sẽ tìm hiểu về dịch vụ mà họ muốn sử dụng, bao gồm các thông tin về tính năng, giá cả và các điều kiện liên quan. 8 - Liên hệ với đại lý dịch vụ: Khách hàng có thể liên hệ với đại lý dịch vụ qua điện thoại hoặc email để đưa ra yêu cầu. - Yêu cầu dịch vụ: Khách hàng sẽ đưa ra yêu cầu dịch vụ và cung cấp các thông tin cần thiết cho đại lý dịch vụ, chẳng hạn như địa chỉ, số điện thoại và thông tin liên quan đến sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng muốn sử dụng.
- Xác nhận dịch vụ: Đại lý dịch vụ sẽ xác nhận yêu cầu dịch vụ của khách hàng và cung cấp thông tin về tiến độ, giá cả và các điều kiện liên quan. - Hoàn tất yêu cầu: Sau khi khách hàng đồng ý với các điều kiện và giá cả, đại lý dịch vụ sẽ hoàn tất khúc mắc hoặc đưa ra lời giải thích cụ thể. Quy tắc chung khi thực hiện nghiệp vụ chăm sóc khách hàng tại gia Hiện chưa có một văn bản quy chuẩn chung cho cả 4 nhà mạng lớn về nguyên tắc chung trong phục vụ tại gia nên khi tiến hành nghiệp vụ nhân viên Mobifone luôn tuân thủ các quy tắc được tóm gọn lại trong những điều sau: Sự tận tâm và chu đáo: Khi chăm sóc khách hàng, bạn nên tập trung hoàn toàn vào khách hàng của mình, với mục đích giúp họ giải quyết các vấn đề và cầu hỏi của họ.