Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu 1. Sự hài lòng của người học Sự hài lòng của người học có thể được định nghĩa là một thái độ ngắn hạn do đánh giá kinh nghiệm giáo dục, dịch vụ và cơ sở vật chất của người học. Sự hài lòng của người học còn có thể được trình bày dưới dạng phản ứng tổng thể không chỉ đối với trải nghiệm học tập của người học mà còn là sự hài lòng của người học đối với thay đổi trong môi trường học do các tương tác lặp đi lặp lại [40].
Tập trung vào sự hài lòng của người học không chỉ cho phép các trường đại học, các cơ sở đào tạo tái thiết kế tổ chức của họ để thích ứng với nhu cầu của người học mà còn cho phép họ phát triển một hệ thống để giám sát liên tục xem họ đáp ứng hoặc vượt quá nhu cầu của người học một cách hiệu quả như thế nào [10]. Do tính chất của việc học tại Bệnh viện nhấn mạnh vào việc thực hành lâm sàng trong thời gian ngắn, trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành sử dụng khái niệm sự hài lòng của người học là một thái độ ngắn hạn do đánh giá kinh nghiệm giáo dục, dịch vụ và cơ sở vật chất của người học. Vai trò của đào tạo người học Điều dưỡng Điều dưỡng viên có nhiệm vụ chính là chăm sóc, hỗ trợ về tinh thần, vệ sinh ăn uống và các hoạt động hàng ngày khác cho người bệnh. Phối hợp chặt chẽ với bác sĩ điều trị, kỹ thuật viên trong công tác chăm sóc người bệnh.
Tuân thủ các quy trình kỹ thuật điều dưỡng, các quy định của Bộ Y tế và của bệnh viện. Luôn theo dõi biễn biến của người bệnh, thực hiện đúng y lệnh của bác sĩ đảm bảo an toàn giúp người bệnh mau chóng phục hồi sức khỏe. Đồng 5 thời, họ cũng là người tư vấn, vận động người bệnh và người nhà người bệnh thực hiện nội qui bệnh viện, vệ sinh phòng bệnh, hướng dẫn người bệnh và gia đình thực hiện một số chăm sóc đơn giản không thuộc phạm vi chuyên môn, tự chăm sóc sức khỏe khi ra viện. Ngoài ra, điều dưỡng viên còn đảm nhiệm công việc hướng dẫn người bệnh làm các thủ tục hành chính.
Điều dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình chăm sóc người bệnh [4]. Đào tạo sinh viên điều dưỡng được đánh giá là một trong những chương trình học quan trọng nhất trong lĩnh vực y tế, bởi sinh viên tốt nghiệp trong lĩnh vực này phải là những điều dưỡng có năng lực, chu đáo và sáng tạo với tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề [3]. Điều dưỡng là lực lượng chăm sóc chính cho bệnh nhân, việc giúp các sinh viên có kiến thức cũng như năng lực từ sớm sẽ đảm bảo được quá trình chăm sóc cũng như nâng cao chất lượng điều trị [8, 53]. “Điều dưỡng phải được chuẩn bị để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của bệnh nhân, hoạt một cách khoa học, mang lại lợi ích cho bệnh nhân và cung cấp dịch vụ chăm sóc bệnh nhân chất lượng và an toàn”.
Hơn một thập kỷ sau khi những lời đó được viết trong một báo cáo năm 2011 về tương lai của điều dưỡng của Viện Y học (nay là Học viện Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Hoa Kỳ), thông điệp này vẫn mang tính cấp thiết [7]. Các điều dưỡng mới ngày nay cần nhiều các kỹ năng hơn. Họ phải có khả năng đánh giá kiến thức và có năng lực trong thực hành và nghiên cứu dựa trên bằng chứng, chính sách y tế và cải tiến hệ thống. Họ cần biết hợp tác và làm việc theo nhóm đa lĩnh vực, đồng thời xuất sắc trong tư duy phản biện và ra quyết định [49].
Khi dân số tiếp tục trở nên đa dạng hơn, thì nhu cầu tăng cường sự đa dạng trong lực lượng điều dưỡng cũng tăng lên. Từ đó, việc đào tạo những điều dưỡng có chất lượng là vô cùng quan trọng. Các hoạt động nhằm đánh giá hoạt động giáo dục Theo Abdallah Ghaicha trong nghiên cứu tổng quan khung lý thuyết 6 cho đánh giá giáo dục năm 2016, việc đánh giá hoạt động có thể chia thành các phần như sau [43]. Chương trình đào tạo: Các nội dung liên quan đến chất lượng đào tạo cũng như kế hoạch giảng dạy bao gồm: kế hoạch đào tạo, chương trình lý thuyết và thực hành của khóa học, mục tiêu của khóa học, lịch trực và học lâm sàng của người học, đề cương chi tiết và tài liệu cho sinh viên.
Đây là quá trình thực hiện truyền đạt kiến thức, từ đó kết thúc bằng bài kiểm tra để gợi ra và đo lường một hành vi (khái niệm) nhất định mà từ đó người ta có thể đưa ra suy luận về các đặc điểm nhất định của một cá nhân, thường là trong các điều kiện tiêu chuẩn hóa. Đội ngũ giảng viên: Kiến thức, kinh nghiệm và sự truyền tải kiến thức của giảng viên. Tác phong làm việc và sự tận tình trong quá trình giảng dạy. Họ thường đánh giá học sinh và sử dụng thông tin đánh giá này để đánh giá chất lượng học tập của học sinh cho các mục đích tổng kết hoặc hình thành.
Đánh giá quá trình học tập : Đánh giá quá trình là hoạt động kiểm tra đánh giá trong lớp học mang tính chất vì sự phát triển của người học (formative) khi minh chứng về kết quả học tập của học sinh được thu thập, lý giải, và sử dụng bởi người dạy, người học, hoặc bạn cùng lớp để đưa ra quyết định thực hiện các bước tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học. Đánh giá quá trình về bản chất mang tính định hướng, dẫn dắt cho người dạy và người học nhiều hơn là ra quyết định. Mục đích chính của đánh giá quá trình là (1) xác định điểm mạnh và những điểm cần cải thiện ở người học; (2) giúp người dạy lập kế hoạch dạy học; (3) giúp người học tự định hướng hoạt động học tập của mình, tự hoàn thiện bài tập, và hoàn thiện các kĩ năng tự đánh giá; (4) thúc đẩy tính tự chủ và tinh thần trách nhiệm đối với học tập trong mỗi người học. 7 Môi trường thực tập: Số lượng bệnh nhân và mô hình bệnh tật, cơ sở vật chất của bệnh viện: phòng học, thiết bị thực hành, nơi để đồ về cả số lượng và chất lượng, dịch vụ kèm theo như dịch vụ ăn uống.
Mô hình lý thuyết về đánh giá hài lòng 1. Một số mô hình nghiên cứu sự hài lòng về chất lượng dịch vụ Các mô hình nghiên cứu phản ánh các cách tiếp cận khác nhau khi đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Mô hình SERVQUAL Mô hình SERVQUAL được ghép từ hai từ là SERVice – Dịch vụ và QUALity – Chất lượng). Mô hình này được xây dựng dựa trên quan điểm về chất lượng dịch vụ.
Là sự so sánh giữa giá trị kỳ vọng/ mong đợi và giá trị thực tế mà khách hàng cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng Khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì CLDV được xem là hoàn hảo. Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL, được Parasuraman và cộng sự xây dựng (năm 1985), dùng để đánh giá chất lượng trong lĩnh vực dịch vụ đã đưa ra một nội dung tổng thể về chất lượng dịch vụ. Theo Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL, bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng cũng được khách hàng cảm nhận dựa trên 10 thành phần.
Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL 10 thành phần 1. Tin cậy: Nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng hạn ngay lần đầu tiên. Đáp ứng: Nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng 3. Năng lực phục vụ: Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ.
Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho phục vụ khách hàng. Tiếp cận: Liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ cho khách hàng. Lịch sự: Nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng. Thông tin: Liên quan đến việc giao tiếp, thông đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ hiểu biết dễ dàng và lắng nghe những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc.
Tín nhiệm: Nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào công ty. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và thương hiệu công ty, nhân cách của nhân viên dịch vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng. An toàn: Liên quan đến khả năng đảm bảo sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính cũng như bảo mật thông tin. Hiểu biết khách hàng: Thể hiện qua khả năng hiểu biết nhu cầu khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên.
Phương tiện hữu hình: Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ dịch vụ. Mô hình 10 thành phần của chất lượng dịch vụ này có ưu điểm là bao quát được hầu như mọi khía cạnh của dịch vụ nhưng nó có nhược điểm là phức tạp trong đo lường. Năm 1988, Parasuraman và cộng sự đã hiệu chỉnh lại và hình thành mô hình mới gồm 5 thành phần [31]. Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL 5 thành phần 1.
Tin cậy (reliability) thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. Đáp ứng (responsiveness) thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. Năng lực phục vụ (assurance) thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng. Đồng cảm (empathy) thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng.
Phương tiện hữu hình (tangibles) thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Tính ưu việt của mô hình này khiến cho việc đánh giá và phân tích thuận lợi hơn so với mô hình cũ.