Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, huyện Mỹ Đức thuộc thành phố Hà Nội đã đạt được những bước chuyển biến kinh tế - xã hội quan trọng. Tính từ năm 2016 đến hết năm 2018, toàn huyện đã huy động được hơn 1.262 tỷ đồng để đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật và nâng cao đời sống dân sinh. Tuy nhiên, tính đến thời điểm cuối năm 2018, toàn địa bàn mới chỉ có 9 trên tổng số 21 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương ứng với tỷ lệ hoàn thành chỉ đạt khoảng 42,8%. Một trong những rào cản lớn nhất ảnh hưởng đến tiến độ chung nằm ở việc thực hiện Tiêu chí số 2 về cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn. Đáng chú ý, cơ cấu nguồn vốn xây dựng giao thông của huyện còn phụ thuộc quá lớn vào nguồn ngân sách nhà nước, trong khi nguồn vốn huy động ngoài ngân sách chỉ đạt gần 8 tỷ đồng, chiếm chưa đầy 0,64% tổng nguồn lực huy động.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ thực tiễn: sau khi các tuyến đường hoàn thành nghiệm thu, cơ quan quản lý chủ yếu tập trung kiểm tra các thông số kỹ thuật xây dựng cơ bản mà chưa chú trọng đo lường mức độ hài lòng thực tế của người dân - chủ thể thụ hưởng trực tiếp. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự hài lòng đối với dịch vụ công, đánh giá thực trạng mức độ thỏa mãn của cộng đồng, phân tích các nhân tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị công trong xây dựng hạ tầng giao thông. Phạm vi không gian được triển khai tại 3 xã đại diện của huyện Mỹ Đức gồm xã Phù Lưu Tế, xã Hợp Tiến và xã Hùng Tiến; phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2018 và số liệu khảo sát sơ cấp thu thập năm 2019. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng giúp chính quyền địa phương nâng cao chỉ số hài lòng của người dân vượt mức 75% và tối ưu hóa nguồn lực đầu tư công trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận việc xây dựng và cung cấp kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn dưới góc độ một loại hình dịch vụ công ích thiết yếu của Nhà nước. Khung lý thuyết nền tảng của nghiên cứu kết hợp giữa Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF của Cronin và Taylor năm 1992 cùng Mô hình SERVQUAL của Parasuraman năm 1988. Theo nguyên lý của thang đo SERVPERF, chất lượng dịch vụ được đánh giá trực tiếp qua mức độ cảm nhận thực tế của người dân thay vì đo lường khoảng cách kỳ vọng, bao gồm 5 thành phần cốt lõi: Tính tin cậy, Sự đáp ứng, Năng lực phục vụ, Sự cảm thông và Phương tiện hữu hình. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Kỳ vọng - Xác nhận của Oliver năm 1980 và Mô hình phân loại nhu cầu Kano năm 1984 để giải thích phản ứng tâm lý và hành vi đóng góp của cộng đồng khi các công trình giao thông đáp ứng hoặc không đáp ứng mong đợi ban đầu.

Khung nghiên cứu xác lập 4 khái niệm khoa học chủ đạo: Dịch vụ công kết cấu hạ tầng kỹ thuật; Tiêu chí giao thông nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ; Quản lý đầu tư công theo chuỗi kết quả từ Đầu vào, Hoạt động, Đầu ra đến Mục tiêu; và Chỉ số hài lòng của công dân. Mô hình phân tích thực nghiệm bao gồm 6 nhóm nhân tố tác động chính đến sự hài lòng: Công tác xây dựng quy hoạch; Công tác chỉ đạo xây dựng; Nguồn vốn và công tác huy động vốn; Công tác quản lý đầu tư xây dựng; Công tác kiểm tra, giám sát xây dựng; và Chất lượng công trình xây dựng thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa hai nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2014 - 2018 của Phòng Kinh tế, Chi cục Thống kê và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Mỹ Đức. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra bảng hỏi trực tiếp với quy mô phát ra là 250 phiếu khảo sát đến từng hộ gia đình. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 3 xã: 2 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới là Phù Lưu Tế (đại diện vùng kinh tế nghề may) và Hợp Tiến (đại diện vùng kinh tế du lịch, dịch vụ), cùng 1 xã đang trong quá trình phấn đấu hoàn thành chuẩn là Hùng Tiến. Phương pháp chọn mẫu này bảo đảm tính đại diện cao cho các điều kiện địa lý, kinh tế và mức độ hoàn thành tiêu chí khác nhau trên địa bàn huyện.

Sau khi làm sạch dữ liệu, có 239 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích (loại bỏ 11 phiếu không đạt yêu cầu do thiếu thông tin, đạt tỷ lệ hợp lệ 95,6%). Thang đo Likert 5 điểm được sử dụng để lượng hóa 34 biến quan sát, gồm 28 biến đo lường 6 nhân tố tác động và 6 biến phản ánh sự hài lòng tổng thể. Toàn bộ dữ liệu được mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0 bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích điểm trung bình và phân bố tần số. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả trên SPSS 20.0 giúp lượng hóa chính xác mức độ đồng thuận của cộng đồng, đồng thời phản ánh khách quan điểm nghẽn trong từng công đoạn quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả xử lý số liệu trên 239 mẫu khảo sát thực tế tại huyện Mỹ Đức đã chỉ ra sự phân hóa rõ nét trong cảm nhận của người dân đối với từng công đoạn thực hiện tiêu chí giao thông nông thôn. Trong 6 nhóm nhân tố tác động, "Công tác kiểm tra, giám sát xây dựng" nhận được mức đánh giá cao nhất với điểm trung bình đạt 3.91/5.00 điểm. Đứng ở vị trí thứ hai là "Công tác quản lý đầu tư xây dựng" với 3.58/5.00 điểm. Nhân tố "Nguồn vốn và công tác huy động vốn" xếp thứ ba với 3.47/5.00 điểm. Nhân tố "Chất lượng công trình xây dựng" đạt mức điểm 3.31/5.00 điểm. Hai nhân tố nhận mức đánh giá thấp nhất trong toàn bộ thang đo là "Công tác xây dựng quy hoạch" chỉ đạt 2.90/5.00 điểm và "Công tác chỉ đạo xây dựng" chạm mức thấp nhất với 2.64/5.00 điểm trên thang đo Likert.

Về mức độ hài lòng chung đối với toàn bộ tiêu chí hạ tầng giao thông, có tới 54,8% số người dân được khảo sát đánh giá kết quả thực hiện ở mức bình thường (trung tính, chưa thực sự thỏa mãn). Tỷ lệ người dân thực sự hài lòng về kết quả sử dụng và hiệu quả thực tế của các công trình giao thông sau khi đưa vào khai thác chỉ đạt 44,8%. Điểm số mức độ hài lòng tổng hợp của người dân huyện Mỹ Đức đối với tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn chỉ đạt mức trung bình 2.68/5.00 điểm, phản ánh một khoảng cách đáng kể giữa nỗ lực đầu tư của bộ máy công quyền và mức độ thỏa mãn của cộng đồng dân cư.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch điểm số giữa các nhóm nhân tố phản ánh chính xác những hạn chế nội tại trong quy trình quản trị dự án tại địa phương. Điểm số rất thấp ở công tác chỉ đạo (2.64 điểm) và công tác quy hoạch (2.90 điểm) cho thấy phương thức điều hành từ cấp huyện đến cấp xã còn mang nặng tính hành chính mệnh lệnh, thiếu tính linh hoạt và chưa chú trọng tham vấn ý kiến nhân dân ngay từ khâu lập đề án. Người dân chưa được tạo điều kiện tham gia đóng góp ý kiến về phương án mở rộng tuyến đường hay kết nối mạng lưới đường trục chính nội đồng phục vụ sản xuất canh tác lúa và hoa màu. Thêm vào đó, việc cơ cấu nguồn vốn giai đoạn 2016 - 2018 bị phụ thuộc tới hơn 99% vào ngân sách (1.262 tỷ đồng ngân sách so với gần 8 tỷ đồng vốn ngoài ngân sách) đã làm suy giảm tâm lý chủ thể của người dân, khiến cộng đồng xem việc làm đường là trách nhiệm riêng của Nhà nước.

So sánh với các bài học kinh nghiệm điển hình, kết quả tại Mỹ Đức có sự tương phản sâu sắc với phong trào Saemaul Undong tại Hàn Quốc trong giai đoạn 1971 - 1978. Tại Hàn Quốc, nhờ phát huy tối đa tính tự chủ và hiệp lực cộng đồng, người dân đã tự nguyện hiến đất và chung tay kiên cố hóa 43.631 km đường làng cùng 42.220 km đường ngõ xóm. Tại Việt Nam, mô hình thành công của huyện Nghi Xuân thuộc tỉnh Hà Tĩnh cũng chứng minh rằng việc công khai minh bạch tài chính đã giúp địa phương huy động được hơn 300 tỷ đồng vốn xã hội hóa từ các tổ chức và con em xa quê. Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu tại Mỹ Đức có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh điểm trung bình giữa 3 xã khảo sát và bảng ma trận đánh giá tầm quan trọng - mức độ thực hiện, qua đó giúp cấp ủy và chính quyền nhận diện rõ nét những mắt xích cần ưu tiên cải tiến khẩn cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định lượng và thực trạng địa bàn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân về hạ tầng giao thông nông thôn:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, minh bạch hóa thông tin và thực thi nghiêm túc quy chế dân chủ cơ sở. Ủy ban nhân dân các xã phối hợp với Ban Phát triển thôn tổ chức họp dân công khai để phổ biến quy hoạch và lấy ý kiến đồng thuận trước khi phê duyệt dự án, phấn đấu đạt tỷ lệ người dân tham gia đóng góp ý kiến tối thiểu 85%. Hoạt động này cần được thực hiện định kỳ vào quý I hàng năm dưới sự giám sát trực tiếp của Thường trực Hội đồng nhân dân xã.

Thứ hai, hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch hạ tầng giao thông nông thôn. Phòng Quản lý Đô thị chủ trì phối hợp với Phòng Kinh tế huyện và Ủy ban nhân dân các xã tiến hành rà soát, điều chỉnh quy hoạch giao thông theo đúng Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTNMT. Mục tiêu đặt ra là xử lý triệt để 100% các điểm thắt cổ chai, bảo đảm kết nối đồng bộ 100% hệ thống đường trục liên thôn với đường trục chính nội đồng trong khung thời gian 2020 - 2022.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác huy động nguồn vốn xã hội hóa và đa dạng hóa nguồn lực đầu tư. Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Mỹ Đức cần xây dựng cơ chế khen thưởng và kích cầu linh hoạt, khuyến khích các doanh nghiệp đóng góp vật liệu xây dựng và vận động nhân dân hiến đất làm đường. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng vốn huy động ngoài ngân sách từ mức dưới 1% lên mức 15% đến 20% tổng vốn đầu tư giao thông trong giai đoạn 2020 - 2025.

Thứ tư, áp dụng mô hình quản lý theo chuỗi kết quả và củng cố công tác duy tu, bảo dưỡng sau đầu tư. Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo kiện toàn Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng tại 100% các thôn xóm với sự tham gia của đại diện Mặt trận Tổ quốc và người dân có uy tín. Đồng thời, Hội đồng nhân dân các xã cần phê duyệt trích lập tối thiểu 5% ngân sách chi thường xuyên hàng năm dành riêng cho công tác bảo trì, sửa chữa mặt đường định kỳ bắt đầu từ năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích chuyên sâu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện và cấp xã, bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức, Phòng Kinh tế, Phòng Quản lý Đô thị và Ủy ban nhân dân 22 xã, thị trấn. Tài liệu cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng giúp các nhà quản lý hoàn thiện phương thức chỉ đạo, tối ưu hóa quy trình phân bổ vốn đầu tư công và nâng cao chỉ số cải cách hành chính địa phương.

Nhóm 2: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và các nhà thầu thi công công trình giao thông. Luận văn giúp các kỹ sư và nhà quản lý nắm bắt chính xác các yêu cầu của cộng đồng về độ bền mặt đường bê tông, khẩu độ rãnh thoát nước và an toàn thi công, từ đó giảm thiểu tối đa các khiếu nại phát sinh từ phía người dân.

Nhóm 3: Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Chính sách công. Nghiên cứu là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp xây dựng bảng hỏi 34 biến quan sát, ứng dụng khung lý thuyết SERVPERF và quy trình xử lý dữ liệu thống kê mô tả qua phần mềm SPSS 20.0 trong lĩnh vực dịch vụ công.

Nhóm 4: Các tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Hội Nông dân cấp xã, thôn. Báo cáo cung cấp các luận cứ thực tiễn giúp cán bộ cơ sở đổi mới phương pháp vận động quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và nâng cao chất lượng hoạt động giám sát đầu tư cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chí nào trong xây dựng giao thông nông thôn tại huyện Mỹ Đức bị người dân đánh giá thấp nhất? Theo số liệu khảo sát thực chứng trên 239 hộ dân, "Công tác chỉ đạo xây dựng" bị đánh giá thấp nhất với chỉ 2.64/5.00 điểm, tiếp theo là "Công tác xây dựng quy hoạch" với 2.90/5.00 điểm. Nguyên nhân chính là do thiếu sự tương tác hai chiều giữa ban chỉ đạo các cấp và người dân, chưa tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia bàn bạc phương án hướng tuyến.

Cơ cấu nguồn vốn xây dựng nông thôn mới tại huyện Mỹ Đức trong giai đoạn nghiên cứu có đặc điểm gì? Giai đoạn 2016 - 2018, huyện Mỹ Đức đã huy động được tổng cộng hơn 1.262 tỷ đồng phục vụ xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, cơ cấu vốn mất cân đối nghiêm trọng khi nguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm hơn 99%, trong khi vốn huy động xã hội hóa ngoài ngân sách chỉ đạt gần 8 tỷ đồng (chiếm chưa đầy 0,64%), cho thấy sự thiếu hụt đóng góp từ doanh nghiệp và người dân.

Vì sao nghiên cứu lại lựa chọn mô hình SERVPERF thay vì mô hình SERVQUAL truyền thống? Mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor năm 1992 đo lường chất lượng dịch vụ trực tiếp thông qua cảm nhận thực tế, loại bỏ việc đo lường kỳ vọng phức tạp của SERVQUAL. Phương pháp này giúp bảng hỏi rút gọn từ 44 câu xuống còn 28 biến quan sát nhân tố, giảm thiểu sai số đo lường và hoàn toàn phù hợp với trình độ tiếp cận thông tin của người dân nông thôn.

Nghiên cứu được triển khai với quy mô mẫu bao nhiêu và tại những địa bàn cụ thể nào? Nghiên cứu tiến hành phát ra 250 phiếu khảo sát và thu về 239 phiếu hợp lệ (tỷ lệ đạt 95,6%) tại 3 xã thuộc huyện Mỹ Đức: xã Phù Lưu Tế và xã Hợp Tiến (hai xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới), cùng xã Hùng Tiến (xã đang trong quá trình thực hiện). Cơ cấu mẫu này bảo đảm tính đại diện khách quan cho toàn huyện.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào có thể ứng dụng hiệu quả nhất cho huyện Mỹ Đức? Bài học từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc giai đoạn 1971 - 1978 về tinh thần tự lực cánh sinh và dân chủ bàn bạc là giải pháp phù hợp nhất. Khi chính quyền đóng vai trò hỗ trợ nguyên vật liệu, kỹ thuật và trao quyền quyết định, tự quản tuyến đường cho nhân dân, chất lượng công trình và sự thỏa mãn của người dân sẽ tăng lên rõ rệt.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã giải quyết toàn diện các mục tiêu khoa học và thực tiễn đề ra với 5 đóng góp trọng tâm:

  • Hệ thống hóa thành công khung lý thuyết đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công hạ tầng giao thông dựa trên mô hình SERVPERF và thang đo Likert chuẩn hóa.
  • Phân tích thực trạng từ 239 mẫu khảo sát tại 3 xã đại diện, chỉ ra tỷ lệ người dân thực sự hài lòng về kết quả sử dụng hạ tầng chỉ đạt 44,8% và nhận diện điểm nghẽn lớn nhất ở khâu chỉ đạo (2.64 điểm) và quy hoạch (2.90 điểm).
  • Làm rõ thực trạng mất cân đối nguồn lực đầu tư tại huyện Mỹ Đức giai đoạn 2016 - 2018 khi vốn ngoài ngân sách chỉ chiếm chưa đầy 0,64% trên tổng mức 1.262 tỷ đồng huy động.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản trị công theo chuỗi kết quả gắn với lộ trình thực thi 2020 - 2025 nhằm nâng tỷ trọng vốn xã hội hóa đạt mốc 15% đến 20%.
  • Thiết lập cơ chế giám sát đầu tư cộng đồng tại 100% thôn xóm và quy định trích lập 5% ngân sách bảo trì hàng năm, tạo nền tảng vững chắc để huyện Mỹ Đức hoàn thành xây dựng nông thôn mới nâng cao.

Để sớm đưa các giải pháp vào thực tế, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức và các phòng ban chuyên môn cần ứng dụng ngay bộ chỉ số đánh giá sự hài lòng này vào kỳ đánh giá công tác quý I năm 2020. Quý cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể liên hệ trực tiếp với tác giả hoặc cơ sở đào tạo để khai thác toàn văn cơ sở dữ liệu và bộ công cụ khảo sát chuẩn hóa của đề tài.