Đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

Đo lường sự hài lòng của khách hàng với chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán trong luận văn thạc sĩ, phân tích và đánh giá chi tiết.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2011

107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Vấn đề nghiên cứu

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

1.7. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán và thị phần môi giới chứng khoán

2.1.1. Tổng quan thị trường chứng khoán

2.1.2. Thị phần môi giới chứng khoán

2.1.2.1. Thị phần môi giới chứng khoán năm 2009
2.1.2.2. Thị phần môi giới chứng khoán năm 2010

2.2. Lý thuyết về sự hài lòng khách hàng trong dịch vụ

2.2.1. Định nghĩa về dịch vụ

2.2.2. Chất lượng dịch vụ

2.2.3. Sự hài lòng khách hàng

2.2.3.1. Định nghĩa sự hài lòng khách hàng
2.2.3.2. Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng

2.2.4. Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL

2.2.5. Một số nghiên cứu về chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

2.3. Môi giới chứng khoán và những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ môi giới chứng khoán

2.3.1. Môi giới chứng khoán

2.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng đối với chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

2.3.2.1. Nhân tố con người
2.3.2.2. Cơ sở vật chất và trình độ công nghệ
2.3.2.3. Mô hình tổ chức của các công ty chứng khoán
2.3.2.4. Kiểm soát nội bộ

2.4. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

2.4.1. Mô hình nghiên cứu

2.4.2. Giả thuyết nghiên cứu

2.5. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: THU THẬP VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU

3.1. Thu thập dữ liệu

3.2. Xử lý dữ liệu

3.2.1. Thống kê mô tả

3.2.2. Kiểm định thang đo và xây dựng mô hình

3.2.2.1. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo
3.2.2.2. Phân tích nhân tố khám phá
3.2.2.3. Kiểm định giả thuyết

3.3. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kết quả nghiên cứu

4.2. Thảo luận sự khác biệt về mức độ hài lòng

4.2.1. Sự khác biệt đối với từng thành phần chất lượng dịch vụ

4.2.2. Sự khác biệt đối với từng công ty chứng khoán

4.2.3. So sánh với các kết quả nghiên cứu trước đây

4.3. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Đề xuất hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu

5.1.1. Hướng ứng dụng đối với thành phần năng lực phục vụ

5.1.2. Hướng ứng dụng đối với thành phần sự đáp ứng

5.1.3. Hướng ứng dụng đối với thành phần sự đồng cảm

5.1.4. Hướng ứng dụng đối với thành phần sự tin cậy

5.1.5. Hướng ứng dụng đối với thành phần phương tiện hữu hình

5.2. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

5.3. Những hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Bảng câu hỏi nghiên cứu sơ bộ

PHỤ LỤC 2: Các biến đo lường sự thỏa mãn của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

PHỤ LỤC 3: Phiếu khảo sát hoàn chỉnh

PHỤ LỤC 4: Bảng mã hóa biến

PHỤ LỤC 5: Kết quả chạy Cronbach’s Alpha

PHỤ LỤC 6: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA

PHỤ LỤC 7: Kết quả phân tích hồi quy

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ môi giới chứng khoán

Đánh giá sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ môi giới chứng khoán là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ. Sự hài lòng không chỉ phản ánh chất lượng dịch vụ mà còn ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng. Theo nghiên cứu, một khách hàng hài lòng có khả năng giới thiệu dịch vụ cho người khác cao gấp 6 lần so với khách hàng chỉ ở mức độ hài lòng trung bình. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc đo lường và cải thiện sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực môi giới chứng khoán.

1.1. Định nghĩa sự hài lòng của khách hàng trong dịch vụ môi giới chứng khoán

Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa là cảm giác thỏa mãn hoặc không thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ mà họ nhận được. Trong lĩnh vực môi giới chứng khoán, sự hài lòng có thể được đo lường qua nhiều yếu tố như chất lượng dịch vụ, sự chuyên nghiệp của nhân viên, và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

1.2. Tầm quan trọng của việc đánh giá sự hài lòng khách hàng

Việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng giúp các công ty chứng khoán nhận diện được điểm mạnh và điểm yếu trong dịch vụ của mình. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thị trường đầy khốc liệt hiện nay.

II. Những thách thức trong việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng

Mặc dù việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng là cần thiết, nhưng cũng gặp phải nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là việc thu thập dữ liệu chính xác từ khách hàng. Nhiều khách hàng có thể không cung cấp phản hồi trung thực do sợ ảnh hưởng đến mối quan hệ với công ty. Hơn nữa, việc phân tích dữ liệu cũng đòi hỏi kỹ năng và công cụ phù hợp để đảm bảo kết quả chính xác.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập phản hồi từ khách hàng

Nhiều khách hàng không muốn tham gia khảo sát hoặc cung cấp phản hồi do thiếu thời gian hoặc không tin tưởng vào tính bảo mật của thông tin. Điều này dẫn đến việc thu thập dữ liệu không đầy đủ và không chính xác.

2.2. Phân tích dữ liệu và đưa ra kết luận

Phân tích dữ liệu từ các khảo sát đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao. Các công ty cần có đội ngũ phân tích dữ liệu để đảm bảo rằng các kết quả thu được là chính xác và có thể áp dụng vào thực tiễn.

III. Phương pháp đánh giá sự hài lòng của khách hàng trong dịch vụ môi giới chứng khoán

Để đánh giá sự hài lòng của khách hàng, các công ty chứng khoán có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một trong những phương pháp phổ biến là khảo sát trực tiếp qua bảng hỏi. Phương pháp này giúp thu thập ý kiến của khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Ngoài ra, các công ty cũng có thể sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu để đánh giá sự hài lòng một cách chính xác hơn.

3.1. Khảo sát trực tiếp và bảng hỏi

Khảo sát trực tiếp là phương pháp hiệu quả để thu thập ý kiến của khách hàng. Bảng hỏi cần được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu và bao gồm các câu hỏi liên quan đến chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và mong muốn của khách hàng.

3.2. Sử dụng công nghệ trong việc thu thập dữ liệu

Công nghệ có thể hỗ trợ trong việc thu thập và phân tích dữ liệu. Các công ty có thể sử dụng phần mềm khảo sát trực tuyến để dễ dàng tiếp cận khách hàng và thu thập phản hồi một cách nhanh chóng.

IV. Kết quả nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ môi giới chứng khoán

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ môi giới chứng khoán phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng dịch vụ, sự chuyên nghiệp của nhân viên và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các công ty chứng khoán cần cải thiện các yếu tố này để nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng

Các yếu tố như chất lượng dịch vụ, sự đồng cảm của nhân viên và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng đều có ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng. Nghiên cứu cho thấy rằng khách hàng đánh giá cao những công ty có nhân viên tận tâm và chuyên nghiệp.

4.2. So sánh giữa các công ty chứng khoán

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa các công ty chứng khoán. Một số công ty có sự hài lòng cao hơn nhờ vào chất lượng dịch vụ tốt hơn và sự chăm sóc khách hàng tận tình.

V. Kết luận và hướng phát triển trong tương lai

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng là rất quan trọng trong ngành môi giới chứng khoán. Các công ty cần chú trọng đến việc cải thiện chất lượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Hướng phát triển trong tương lai nên tập trung vào việc sử dụng công nghệ để nâng cao trải nghiệm khách hàng.

5.1. Đề xuất cải tiến chất lượng dịch vụ

Các công ty chứng khoán nên xem xét việc cải tiến quy trình phục vụ khách hàng, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ. Việc đào tạo nhân viên cũng cần được chú trọng để đảm bảo họ có đủ kỹ năng và kiến thức.

5.2. Tương lai của dịch vụ môi giới chứng khoán

Dịch vụ môi giới chứng khoán sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Các công ty cần nắm bắt xu hướng công nghệ mới để cải thiện dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Thu thập và xử lý dữ liệu Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán và thị phần môi giới chứng khoán 2.1 Tổng quan thị trường chứng khoán Mười năm trước, thị trường Chứng khoán Việt Nam được thành lập trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính châu Á ảnh hưởng sâu rộng, còn nhiều hạn chế trong nền kinh tế thị trường, nhiều yếu tố mới manh nha, hàng hóa ít, hiểu biết của nhà đầu tư còn hạn chế. Trong 10 năm qua, mặc dù chịu tác động bởi 2 cuộc khủng hoảng tài chính lớn ở khu vực và thế giới nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn không ngừng phát triển. Cấu trúc của thị trường từng bước được hoàn thiện theo hướng tách chức năng quản lý với chức năng tổ chức, vận hành. Bên cạnh đó, thể chế và khung khổ pháp lý liên tục được bổ sung phù hợp với thực tiễn trong nước và từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế.

Hệ thống các định chế trung gian, các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng. Sự phát triển của thị trường chứng khoán được thể hiện qua những con số tăng trưởng ấn tượng. Thị trường chứng khoán của Việt Nam trong 10 năm qua đã phát triển nhanh, mạnh và vững chắc. Nhờ có thị trường chứng khoán, chúng ta xây dựng thị trường tài chính, tiền tệ để chuyển đổi từ hoạt động đầu tư chủ yếu thông qua kênh ngân hàng là kênh ngắn hạn sang kênh đầu tư chứng khoán, đầu tư vốn.

Sau 10 năm, thị trường đã có những phát triển về lượng và chất, đã tách và phát triển được các thị trường, các sở giao dịch, hình thành và mở thêm 7 những thị trường mới như trái phiếu chuyên biệt, UPCOM… Hệ thống trung gian cũng nhanh chóng mở rộng cả số lượng, chất lượng, công nghệ. Chất lượng công bố thông tin được cải tiến. Về khối các nhà đầu tư, hiện có trên 900.000 tài khoản, hiểu biết của nhà đầu tư cũng được tăng cường. Khối lượng nhà đầu tư nước ngoài, những năm đầu tiên rất hạn chế, nhưng năm 2007 đã thu hút nguồn vốn khoảng 11 - 12 tỷ USD, hiện nay khoảng 7 tỷ USD, góp phần ổn định vấn đề ngoại hối, ổn định tỷ giá… Thị trường chứng khoán đã đóng góp tích cực cho hệ thống năng lực các doanh nghiệp Việt Nam.

Từ chỗ chỉ có hai cổ phiếu niêm yết giá trị giao dịch 70 triệu đồng/ phiên, đến nay đã có 550 công ty niêm yết, với giá trị giao dịch đạt bình quân 3.000 tỷ đồng/phiên, mức vốn hóa đạt trên 40% GDP, tổng giá trị vốn huy động trong 5 năm gần đây đã đạt gần 300. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi phải tiếp tục phát triển thị trường vốn, tức thị trường chứng khoán. Cần đặc biệt lưu ý những nội dung mà thị trường cần quan tâm trong giai đoạn tới. Đó là tăng cường tính công khai minh bạch, thông tin thông suốt cho thị trường, xây dựng định chế trung gian vững mạnh, đặc biệt dành ưu tiên số một cho nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường.

 Những kết quả đạt được của thị trường chứng khoán Việt Nam [20] trong 10 năm qua : Quy mô thị trường và giá trị giao dịch liên tục tăng trưởng mạnh. Trong 5 năm đầu, giá trị giao dịch bình quân chỉ là 55 tỷ đồng/phiên. Song 5 năm gần đây, giá trị giao dịch bình quân đạt 1.300 tỷ đồng/phiên. Đặc biệt, từ cuối năm 2009 đến nay, giá trị giao dịch bình quân đạt tới 3.000 tỷ đồng/phiên.

8 Số lượng công ty niêm yết cũng tăng liên tục. Phiên giao dịch đầu tiên (ngày 20/7/2000) chỉ có cổ phiếu của 2 công ty niêm yết (REE và SAM), đến nay, số lượng công ty niêm yết đã là 530 công ty, mức vốn hoá đạt trên 700.000 tỷ đồng, chiến gần 40% GDP. Từ 7 công ty chứng khoán (năm 2000) và 1 công ty quản lý quỹ (năm 2003), hiện đã có 105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ hoạt động. Toàn thị trường đang có trên 900.000 tài khoản nhà đầu tư cả tổ chức và cá nhân, trong đó có hơn 10.000 tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, với danh mục đầu tư nắm giữ đạt gần 7 tỷ USD.

Tổng giá trị vốn huy động trong 5 năm gần đây đạt gần 30.000 tỷ đồng, chiếm 20%GDP, trong đó, riêng năm 2007, tổng giá trị huy động vốn qua thị trường chứng khoán đạt 127. Thị trường chứng khoán tập trung dần trở thành một kênh huy động vốn cho ngân sách Nhà nước và đầu tư phát triển thông qua các đợt đấu thầu trái phiếu Chính phủ và tổ chức. Tính từ năm 2000 đến 30/6/2007, thị trường chứng khoán đã trở thành kênh huy động tới 42% tổng giá trị các đợt phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc được Chính phủ bảo lãnh phát hành.2 Thị phần môi giới chứng khoán 2.1 Thị phần môi giới chứng khoán năm 2009 Trong danh sách Top 10 công ty chứng khoán dẫn đầu về thị phần môi giới năm 2009 được Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) công bố mới đây, Công ty Chứng khoán Thăng Long (TSC) dẫn đầu cả về thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ, chiếm 9.13% tổng thị phần. Riêng trong quý IV, TSC chiếm 10,75% và 6 9 tháng cuối năm là 9,95%.

SSI đứng thứ hai với 8,26% thị phần – cao hơn so với con số 8,01% của 6 tháng cuối năm. Riêng quý IV là 8,39%. Điều này cho thấy thị phần của công ty đã giảm dần trong nửa cuối năm. Sacombank-SBS đứng thứ 3 với 7,77% thị phần.

Cùng với TSC, thị phần của công ty đã tăng lên trong những tháng cuối năm. Trong Top 10 này, thành viên mới tham gia thị trường là Công ty Chứng khoán FPT (FPTS) bất ngờ giành vị trớ thứ 6 với thị phần môi giới 3.84%; kế đến là Công ty Chứng khoán KimEng (KEVS) chiếm 3.4% tổng thị phần. Sự “lấn sân” thị phần môi giới của các công ty chứng khoán mới gia nhập thị trường như FPTS hay KimEng với những vị trí cao cho thấy, các công ty chứng khoán cạnh tranh khá quyết liệt trong mảng hoạt động này. Điều này cũng dễ hiểu, bởi đây là hoạt động phổ biến nhất và mang lại giá trị lớn cho các công ty chứng khoán hiện nay.1: Top 10 thị phần môi giới chứng khoán năm 2009 STT Công ty chứng khoán Thị phần 1 Thăng Long (TSC) 9.77% 4 Hồ Chí Minh (HSC) 5.63% 5 Ngân hàng Á Châu (ACBS) 4.37% 9 Ngân hàng Ngoại thương (VCBS) 2.9% 10 Quốc tế Việt Nam (VIS) 2.59% Tổng thị phần 51.2 Thị phần môi giới chứng khoán năm 2010 Bản tổng kết thị phần giá trị giao dịch môi giới chứng khoán trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) năm 2010 đã có bất ngờ lớn.

Nếu qua các quý từ năm 2009 đến 2010, bất ngờ tập trung ở sự lấn sân của những công ty chứng khoán mới gia nhập thị trường, thì kết quả mới nhất cho thấy sự quyết liệt trong cạnh tranh ở hai vị trí dẫn đầu. 1 Trong khoảng từ năm 2009 trở lại đây, Chứng khoán Thăng Long (TSC) là công ty chứng khoán khẳng định vị trí dẫn đầu ở thị phần giá trị môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ và khoảng cách của vị trí dẫn đầu so với các vị trí tiếp theo là đáng kể. Tuy nhiên, bất ngờ lớn đã xuất hiện trong quý 4/2010, khi Chứng khoán Sài Gòn (SSI) có sự bứt phá mạnh, vươn lên dẫn đầu chiếm 11,61% thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ trên HOSE. Bất ngờ tiếp theo đến từ Công ty Cổ phần Chứng khoán Tp.HCM (HSC) khi chiếm 8,71%.

Với sự vươn lên mạnh của hai thành viên trên, TSC đã lùi về vị trí thứ ba với 8,35%; thị phần cũng giảm đáng kể khi trong quý 3/2010 là 11,34%. Cũng trong quý 4/2010, thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quý trên HOSE đón sự góp mặt của thành viên mới trong Top 10, Công ty TNHH Chứng khoán VPBank (VPBS) với 2,89%, và sự trở lại của Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) với 2,5% và Công ty Cổ phần Chứng khoán Kim Eng Việt Nam (KEVS) với 2,53%. Sự bứt phá mạnh của SSI cũng thể hiện rõ trong kết quả chung của 6 tháng cuối năm 2010 trên HOSE: chiếm vị trí dẫn đầu Top 10 với 9,90%, nhỉnh hơn TSC ở vị trí thứ hai là 9,87%. Và trong kết quả chung 6 tháng này, Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt (VCSC) cũng có mặt như từng xuất hiện trong quý 3/2010, hay hiện tượng mới là Công ty Cổ phần Chứng khoán Hòa Bình (HBS) và sự trở lại của BVSC.

Chung cuộc, kết quả Top 10 thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ trên HOSE năm 2010, vị trí dẫn đầu vẫn thuộc về TSC với 10,04%. SSI đứng thứ hai với 8,94%, nhưng rõ ràng sự bứt phá trong 6 1 tháng cuối năm và đặc biệt là trong quý 4 có thể xem là một xu hướng mà TSC phải dè chừng. Trong kết quả chung cả năm 2010, Top 10 trên HOSE cũng chính thức đón sự trở lại của BVSC, KEVS, sự góp mặt của “tân binh” HBS cũng như sự quen thuộc của HSC, Sacombank-SBS, ACBS, VNDirect và FPTS.2: Top 10 thị phần môi giới chứng khoán năm 2010 STT Công ty chứng khoán Thị phần 1 Thăng Long (TSC) 10.94% 3 Hồ Chí Minh (HSC) 7.02% 5 Ngân hàng Á Châu (ACBS) 4.49% 9 Kim Eng Việt Nam (KEVS) 2.08% Tổng thị phần 50.14% 1 Thị phần môi giới chỉ là một chỉ tiêu thống kê về hoạt động môi giới của một công ty chứng khoán, mặc dù trong công ty chứng khoán hoạt động môi giới luôn được xem như là một hoạt động khá quan trọng, nhưng đây không phải là chỉ tiêu duy nhất bởi các CTCK còn nhiều mảng hoạt động khác không kém phần quan trọng thậm chí quan trọng hơn nhiều như tư vấn, đầu tư… Thị phần môi giới là “miếng bánh” quan trọng của công ty chứng khoán, nhưng các công ty chứng khoán đã bắt đầu chuyển hướng, không tăng trưởng “miếng bánh” này bằng mọi giá mà sẽ tập trung đầu tư vào công nghệ và nghiên cứu, đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng, cũng như cung cấp tốt hơn thông tin tư vấn đầu tư để gia tăng tiện ích và chất lượng tư vấn cho khách hàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ