Tổng quan nghiên cứu

Thủy ngân là một trong những kim loại nặng độc hại bậc nhất với khả năng tồn lưu lâu dài và tích lũy sinh học nguy hiểm trong chuỗi thức ăn. Thống kê toàn cầu cho thấy mỗi năm có khoảng 9.000 tấn thủy ngân được sản xuất, trong đó hơn 5.000 tấn bị phát tán vào các đại dương, làm nồng độ kim loại này trên bề mặt biển tăng gấp đôi trong vòng 100 năm qua. Tại Việt Nam, hệ thống với 13.640 cơ sở y tế phát sinh khoảng 450 tấn rác thải mỗi ngày, bao gồm 47 tấn chất thải rắn nguy hại. Theo tính toán của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, tỷ lệ hỏng vỡ nhiệt kế tại các cơ sở điều trị lên tới 18,8%, phát thải trung bình 1,7 gam thủy ngân trên một giường bệnh mỗi năm, ước tính làm thất thoát ra môi trường hơn 550 kg thủy ngân hàng năm.

Trước thực trạng các dụng cụ y tế truyền thống như nhiệt kế chứa từ 0,5 đến 1,5 gam thủy ngân và huyết áp kế chứa từ 110 đến 200 gam thủy ngân vẫn được sử dụng phổ biến, luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Khoa học Môi trường với mã số 60440301 của tác giả Vũ Minh Hải Tuyền, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Hà tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014, đã tập trung giải quyết bài toán cấp bách này. Nghiên cứu thực hiện đánh giá toàn diện hiện trạng sử dụng, phát thải và công tác quản lý chất thải chứa thủy ngân tại Bệnh viện 19-8 Bộ Công An với quy mô 600 giường bệnh và Bệnh viện E Trung ương với quy mô 390 giường bệnh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đề tài hướng tới mục tiêu thiết lập cơ sở dữ liệu định lượng, phân tích rủi ro phơi nhiễm nghề nghiệp và đề xuất các giải pháp kỹ thuật kết hợp quản trị nhằm giảm thiểu, tiến tới loại bỏ hoàn toàn thủy ngân trong lĩnh vực y tế, phù hợp với các cam kết của Công ước Minamata.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết độc học môi trường và mô hình chu trình phát tán chất ô nhiễm hữu cơ bền cùng các kim loại độc hại khó phân hủy. Khung lý thuyết phân tích rõ quá trình thủy ngân nguyên tố khi phát tán từ các thiết bị y tế bị hỏng vỡ sẽ nhanh chóng bay hơi ở nhiệt độ phòng, thâm nhập qua đường hô hấp hoặc lắng đọng vào môi trường nước. Tại đây, vi sinh vật chuyển hóa thủy ngân vô cơ thành methyl thủy ngân mang độc tính cực cao, hòa tan trong chất béo và tích tụ sinh học qua chuỗi thức ăn thủy sản.

Nghiên cứu vận dụng ba khái niệm then chốt gồm: giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế, quy định nồng độ trung bình 8 giờ đo được là 0,02 mg/m3 đối với thủy ngân vô cơ và 0,01 mg/m3 đối với thủy ngân hữu cơ; mô hình quản lý dòng chất thải y tế nguy hại từ nguồn phát sinh đến khâu tiêu hủy cuối cùng; và các nguyên tắc kiểm soát của Công ước Minamata năm 2013 do 140 quốc gia thông qua nhằm chấm dứt sản xuất, xuất nhập khẩu thiết bị y tế chứa thủy ngân vào năm 2020. Khung lý thuyết cũng tích hợp các tiêu chuẩn an toàn của Tổ chức Chăm sóc Sức khỏe Không Gây hại phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra cắt ngang kết hợp quan sát hiện trường và tổng quan tài liệu khoa học chuyên sâu. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định toàn diện với tổng số 180 đối tượng khảo sát, bao gồm 01 cán bộ lãnh đạo bệnh viện phụ trách vật tư và dược, 04 cán bộ quản lý chuyên trách hành chính, quản trị, chất thải và trang thiết bị, cùng 172 nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng gồm trưởng khoa, điều dưỡng trưởng, bác sĩ và y tá điều trị trực tiếp (thu thập trung bình 04 phiếu khảo sát trên mỗi khoa phòng). Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo từng chuyên khoa lâm sàng và cận lâm sàng được áp dụng tại 24 khoa thuộc Bệnh viện 19-8 và 19 khoa thuộc Bệnh viện E nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất cho toàn bộ quy trình vận hành thiết bị.

Lý do lựa chọn phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp kiểm toán dòng chất thải là nhằm thu thập chính xác số liệu định lượng về khối lượng phát sinh rác thải (257,2 tấn/năm tại Bệnh viện 19-8 và 177 tấn/năm tại Bệnh viện E), số lượng thiết bị vỡ hỏng hàng năm và hành vi xử lý sự cố thực tế của nhân viên. Toàn bộ dữ liệu được nhập liệu độc lập hai lần trên phần mềm Epi-Info 6.04 để kiểm soát sai sót, sau đó được phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chi phí - hiệu quả và kiểm định biến số trên phần mềm SPSS 15.0 trong mốc thời gian nghiên cứu hoàn thành năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại hai bệnh viện hạng I ghi nhận 100% các khoa phòng đều sử dụng bóng đèn huỳnh quang chiếu sáng và có sử dụng các vật dụng chứa thủy ngân. Nhiệt kế thủy ngân là thiết bị đo thân nhiệt phổ biến nhất, hiện diện tại 92% số khoa phòng ở Bệnh viện 19-8 và 89% số khoa phòng ở Bệnh viện E. Huyết áp kế thủy ngân vẫn còn được duy trì tại 29% số khoa của Bệnh viện 19-8, trong khi vật liệu hàn răng amalgam chứa thủy ngân được ghi nhận sử dụng tại 4% số khoa của Bệnh viện 19-8 và 11% tại Bệnh viện E. Về mức độ phát thải, hàng năm Bệnh viện 19-8 loại bỏ 146 nhiệt kế vỡ, 07 huyết áp kế hỏng và 807 bóng đèn huỳnh quang; con số này tại Bệnh viện E lần lượt là 150 nhiệt kế vỡ và 300 bóng đèn huỳnh quang hỏng.

Thực trạng lưu chứa và thải bỏ chất thải thủy ngân bộc lộ nhiều nguy cơ phơi nhiễm nghiêm trọng. Tại các khoa phòng, 63% đơn vị tại Bệnh viện 19-8 và 58% đơn vị tại Bệnh viện E đang chứa chất thải thủy ngân chung với rác thải y tế lây nhiễm; tỷ lệ lưu giữ trong thùng chuyên dụng có nắp đậy kín chỉ đạt 17% ở Bệnh viện 19-8 và 26% ở Bệnh viện E. Khi điều tra 180 nhân viên y tế, có tới 57% cán bộ cho biết đã vứt bỏ chất thải thủy ngân vào thùng rác lây nhiễm, 18% bỏ vào thùng đựng vật sắc nhọn, 6% vứt chung vào rác sinh hoạt và 3% xả thẳng xuống cống thoát nước công cộng. Về quy trình ứng phó sự cố đổ vỡ, 38% nhân viên dùng chổi và hót rác thông thường làm kim loại bị phân tán thành hàng ngàn hạt nhỏ, 22% lau bằng giấy, chỉ 24% dùng dụng cụ hút chuyên dụng và vỏn vẹn 3% biết sử dụng bột lưu huỳnh để kết tủa thủy ngân. Đáng chú ý, 49% nhân viên y tế cho rằng đốt là giải pháp xử lý chất thải thủy ngân tốt nhất và 42% thừa nhận hoàn toàn không biết phương pháp xử lý đúng quy chuẩn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng đáng báo động trên bắt nguồn từ việc thiếu vắng các quy trình thao tác chuẩn và các chương trình tập huấn an toàn hóa chất. Tại Bệnh viện 19-8 chỉ có 50% số khoa nhận được văn bản hướng dẫn sử dụng thiết bị chứa thủy ngân, trong khi tỷ lệ này tại Bệnh viện E là 68%. Dữ liệu cơ cấu chất thải y tế của hai bệnh viện có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng: chất thải thông thường chiếm áp đảo từ 79,04% đến 83,7%, chất thải nguy hại nhiễm khuẩn chiếm 13,5% đến 17%, và chất thải nguy hại không lây nhiễm chiếm từ 2,8% đến 3,96%. Khi chất thải chứa thủy ngân bị bỏ lẫn vào rác lây nhiễm rồi chuyển sang lò đốt hoặc hấp tiệt trùng, thủy ngân sẽ bốc hơi trực tiếp ở nhiệt độ cao, biến lò đốt y tế thành nguồn phát tán khí độc vào môi trường đô thị.

Khi đánh giá so sánh đa tiêu chí giữa các dòng thiết bị đo huyết áp qua bảng điểm thang 30, máy đo huyết áp đồng hồ cơ học đạt điểm cao nhất là 26 điểm, vượt trội hơn máy đo điện tử đạt 24 điểm và huyết áp kế thủy ngân chỉ đạt 23 điểm do nguy cơ phơi nhiễm môi trường cao. Mặc dù huyết áp kế thủy ngân có độ chính xác chuẩn lý thuyết, nhưng kiểm tra thực tế cho thấy 55% máy bị đọng cột thủy ngân ở mức 10-20 mmHg khi không sử dụng, 38% cột bị bẩn do oxy hóa và 20% cột bị đặt lệch không thẳng đứng làm sai lệch kết quả. Bài học kinh nghiệm quốc tế từ Bệnh viện Posadas tại Argentina cho thấy việc thay thế toàn bộ nhiệt kế thủy ngân đã tiết kiệm gần 3.000 USD chi phí vận hành sau một năm, trong khi Bệnh viện Nhi Federico Gomez tại Mexico tiết kiệm tối thiểu 10.000 USD trong sáu năm nhờ cắt giảm hoàn toàn chi phí xử lý sự cố môi trường và vật tư tiêu hao.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát triệt để nguồn phát thải và bảo vệ sức khỏe nhân viên y tế, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp hành động trọng tâm với lộ trình thực thi rõ ràng:

Thứ nhất, ban hành kế hoạch thay thế toàn diện thiết bị y tế chứa thủy ngân sang thiết bị an toàn. Khoa Dược và Phòng Vật tư Kỹ thuật cần chủ động dừng mua sắm mới các loại nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân, thay thế bằng nhiệt kế kỹ thuật số có giá từ 50.000 đến 150.000 đồng một chiếc và huyết áp kế đồng hồ cơ học. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ khoa phòng có kế hoạch thay thế từ mức 25% - 37% hiện tại lên 100% trước năm 2020.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình ứng phó sự cố tràn đổ thủy ngân tại tất cả các buồng bệnh. Hội đồng Kiểm soát Nhiễm khuẩn cần trang bị ngay bộ dụng cụ xử lý sự cố chuyên dụng gồm hộp nhựa nắp kín, bột lưu huỳnh, chổi lông mềm, ống hút cao su và khẩu trang than hoạt tính cho 100% các khoa lâm sàng. Khi xảy ra vỡ nhiệt kế, nhân viên y tế phải khoanh vùng, rải bột lưu huỳnh để tạo muối sunfua thủy ngân không bay hơi và thu gom vào thùng lưu chứa chất thải nguy hại, chấm dứt hoàn toàn việc quét chổi thông thường.

Thứ ba, tổ chức đào tạo và nâng cao nhận thức bắt buộc về an toàn hóa chất. Phòng Tổ chức Cán bộ phối hợp với Mạng lưới Kiểm soát Nhiễm khuẩn mở các khóa tập huấn định kỳ 6 tháng một lần cho 100% bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên hộ lý. Chương trình đào tạo cần nâng tỷ lệ nhân viên y tế hiểu đúng về tác hại và phương pháp thu gom thủy ngân từ mức dưới 10% lên trên 90% trong vòng 12 tháng.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống giám sát và liên kết xử lý chất thải liên ngành. Ban Giám đốc hai bệnh viện cần siết chặt hợp đồng vận chuyển và tiêu hủy chất thải nguy hại với Công ty Môi trường Đô thị URENCO 10, đảm bảo 100% bóng đèn huỳnh quang và nhiệt kế hỏng được cô lập trong thùng chuyên dụng màu đen, tuyệt đối không đưa vào quy trình thiêu đốt chung với rác thải lây nhiễm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng chính:

Ban Giám đốc và cán bộ quản lý vật tư thiết bị tại các bệnh viện: Cung cấp bảng dữ liệu so sánh chi tiết về đặc tính kỹ thuật, độ tin cậy và phân tích tài chính giữa thiết bị thủy ngân và thiết bị điện tử, đồng hồ. Cán bộ quản lý có thể ứng dụng bảng dự toán chi phí để xây dựng kế hoạch chuyển đổi trang thiết bị y tế xanh, giúp tiết kiệm hàng ngàn USD chi phí bảo trì và dọn dẹp môi trường.

Cán bộ phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn và quản lý môi trường bệnh viện: Tài liệu cung cấp hướng dẫn thực hành từng bước về thiết lập quy trình kiểm kê nguồn thải, phương pháp lưu chứa riêng biệt và quy chuẩn xử lý sự cố tràn đổ bằng lưu huỳnh nhằm giảm thiểu 100% nguy cơ nhiễm độc nghề nghiệp cho nhân viên điều trị.

Các nhà hoạch định chính sách y tế và môi trường: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực chứng tại các bệnh viện tuyến đầu, làm luận cứ khoa học tin cậy phục vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và lộ trình thực thi cam kết loại bỏ thủy ngân theo Công ước Minamata của Chính phủ Việt Nam.

Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học Môi trường và Y tế Công cộng: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về điều tra dịch tễ học môi trường, kỹ thuật thiết kế phiếu điều tra phân tầng và quy trình xử lý số liệu chuẩn hóa trên hệ thống phần mềm Epi-Info 6.04 và SPSS 15.0.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao không được xử lý chất thải y tế chứa thủy ngân bằng các lò đốt thông thường? Thủy ngân có nhiệt độ sôi thấp ở 357 độ C nên khi đưa vào lò thiêu đốt y tế, kim loại này sẽ bay hơi hoàn toàn vào khí quyển. Quá trình này tạo ra khí thải độc hại khó phân hủy, gây ô nhiễm không khí diện rộng và tái lắng đọng vào các lưu vực nước sông hồ dưới dạng hợp chất methyl thủy ngân cực độc.

Cách xử lý chuẩn xác nhất khi nhiệt kế thủy ngân bị rơi vỡ tại phòng bệnh là gì? Nhân viên y tế cần lập tức mở cửa thông gió, sơ tán bệnh nhân, đeo găng tay và dùng ống hút gom các giọt lớn vào lọ kín. Sau đó, rải bột lưu huỳnh phủ kín khu vực để tạo kết tủa sunfua thủy ngân rồi dùng chổi lông mềm thu gom vào thùng rác nguy hại có nắp đậy, tuyệt đối không dùng máy hút bụi hoặc chổi cứng.

Huyết áp kế đồng hồ cơ học có đảm bảo độ chính xác tương đương huyết áp kế thủy ngân không? Nhiều thử nghiệm lâm sàng chuẩn quốc tế khẳng định huyết áp kế đồng hồ được hiệu chuẩn định kỳ có độ chính xác và tin cậy tương đương máy thủy ngân. Thiết bị này đạt 26/30 điểm đánh giá tổng hợp, giúp loại trừ hoàn toàn các lỗi thường gặp như bẩn cột đo, thủy ngân bị oxy hóa hoặc rò rỉ khí độc.

Việc thay thế thiết bị không chứa thủy ngân có gây tốn kém ngân sách cho bệnh viện không? Chi phí đầu tư ban đầu cho nhiệt kế kỹ thuật số dao động từ 50.000 đến 150.000 đồng, hoàn toàn tương đương hoặc thấp hơn tổng chi phí mua nhiệt kế thủy ngân cộng với chi phí bồi hoàn, thu gom và tiêu hủy khi bị vỡ. Nghiên cứu thực tế tại các bệnh viện quốc tế chứng minh việc chuyển đổi giúp hoàn vốn và tiết kiệm hàng ngàn USD mỗi năm.

Công ước Minamata đưa ra yêu cầu thời hạn nào cho việc loại bỏ thiết bị y tế chứa thủy ngân? Công ước Minamata về Thủy ngân được 140 quốc gia thông qua đặt ra mốc hạn định bắt buộc là năm 2020 để chấm dứt toàn bộ hoạt động sản xuất, nhập khẩu và xuất khẩu các thiết bị y tế chứa thủy ngân như nhiệt kế, áp kế và huyết áp kế, hướng tới nền y tế toàn cầu an toàn và bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa toàn diện thực trạng sử dụng thiết bị chứa thủy ngân với tỷ lệ hiện diện trên 89% tại các khoa phòng của Bệnh viện 19-8 và Bệnh viện E, chỉ ra lượng thải bỏ hàng năm lên tới gần 300 nhiệt kế vỡ và hơn 1.100 bóng đèn huỳnh quang hỏng.
  • Nghiên cứu chỉ rõ lỗ hổng quản lý nghiêm trọng khi có tới 57% nhân viên y tế thải bỏ thủy ngân vào rác lây nhiễm, 38% thu dọn sự cố bằng chổi quét cơ học và 42% chưa được trang bị kiến thức chuyên môn về ứng phó ô nhiễm kim loại nặng.
  • Đề tài chứng minh tính ưu việt của các giải pháp công nghệ thay thế như huyết áp kế đồng hồ đạt 26/30 điểm đánh giá và nhiệt kế điện tử, vừa đảm bảo độ chính xác điều trị vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao và triệt tiêu nguy cơ nhiễm độc.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất bốn bước bao gồm chuyển đổi danh mục mua sắm, ban hành quy trình ứng cứu tràn đổ bằng bột lưu huỳnh, tập huấn toàn diện nhân viên và liên kết xử lý chuyên dụng tạo tiền đề vững chắc để đáp ứng mục tiêu của Công ước Minamata đến năm 2020.
  • Các nhà quản lý y tế và cơ quan chức năng cần khẩn trương áp dụng khung giải pháp của luận văn nhằm chuyển đổi mô hình bệnh viện xanh, loại bỏ hoàn toàn thủy ngân để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giữ gìn môi trường sống bền vững.