Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở bản chất di truyền của đời trước qui định. - Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng Khi đánh giá sinh trưởng, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu: + Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng, kích thước của con vật tại các thời điểm khảo sát. + Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian.
+ Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ phần trăm khối lượng, kích thước tăng thêm so với trung bình của giai đoạn khảo sát. - Các quy luật sinh trưởng Quá trình sinh trưởng của vật nuôi tuân theo những quy luật nhất định. + Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn Vật nuôi sinh trưởng nhanh nhất vào thời kỳ sơ sinh, sau đó giảm dần và chấm dứt ở tuổi trưởng thành. Sinh trưởng theo giai đoạn không chỉ là đặc trưng của toàn bộ cơ thể mà còn là của từng bộ phận và từng hệ cơ quan.
Sinh trưởng chia làm 2 giai đoạn chính: Bào thai (trong cơ thể mẹ) và ngoài bào thai. Theo Trần Đình Miên và cs (1997), sự tăng trưởng ở giai đoạn bào thai chịu ảnh hưởng nhiều của cơ thể mẹ, còn giai đoạn ngoài bào thai chịu ảnh hưởng của tính di truyền đời trước nhiều hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 4 Tính chất giai đoạn được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nguyễn Ân và cs (1994) cho rằng: Thời gian của từng giai đoạn, số lượng giai đoạn, sự đột biến sinh trưởng ở từng giai đoạn của từng cá thể trong phạm vi giống đều khác nhau.
Giai đoạn bào thai: Được tính từ lúc hợp tử hình thành đến khi con vật non được sinh ra. Trong giai đoạn này, cả 2 quá trình sinh trưởng và phát dục đều rất mạnh mẽ. Bào thai được nuôi bằng dưỡng chất của mẹ thông qua hệ thống mạch máu nhau thai. Quá trình sinh trưởng và phát dục của thai trải qua 3 thời kỳ: Phôi; tiền thai và thai nhi.
Giai đoạn bào thai có vị trí quan trọng, vì ở giai đoạn này hình thành tất cả các cơ quan, bộ phận, hệ thống, xác định cơ chế thích ứng của cơ thể với các điều kiện ở giai đoạn sau. Giai đoạn ngoài bào thai: Được tính từ khi con vật sinh ra đến khi già cỗi. Giai đoạn này gồm các thời kỳ: Bú sữa, sau cai sữa, trưởng thành và già cỗi. Ở mỗi thời kỳ, quá trình sinh trưởng, phát dục khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng cũng khác nhau.
Thời gian sinh trưởng dài ngắn tùy thuộc loài, giống gia súc. Tốc độ và cách thức sinh tổng hợp protein chính là phương thức hoạt động của gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể. Thời kỳ bú sữa: Sinh trưởng của cơ thể gia súc non rất mãnh liệt. Nguồn dinh dưỡng cung cấp cho gia súc non hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng cho sữa của mẹ.
Ở thời kỳ này, gia súc có mức tăng khối lượng cao nhất, nếu nuôi dưỡng tốt có thể đạt 1. Thời kỳ sau cai sữa: Sinh trưởng của con vật biểu hiện rõ nét qua kiểu hình, hệ số di truyền tính trạng sinh trưởng và khả năng cho thịt khá cao. Tính giai đoạn trong sự phát triển không chỉ biểu hiện ở tăng sinh khối mà còn biểu hiện ở sự hoàn chỉnh dần các chức năng. Thời kỳ này nhất thiết nối tiếp thời kỳ kia, không đi ngược lại.
+ Quy luật sinh trưởng không đồng đều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 5 Sinh trưởng - phát dục của toàn bộ cơ thể gia súc hay ở từng cơ quan, bộ phận có sự thay đổi theo tuổi. Khi cơ thể còn non, tốc độ sinh trưởng rất nhanh và chậm dần ở các giai đoạn tiếp theo. Đồng thời, các cơ quan bộ phận trong cơ thể cũng phát triển với tốc độ khác nhau ở các thời kỳ khác nhau. Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều còn thể hiện ở sự trao đổi chất và quá trình tích lũy vật chất không giống nhau ở các giai đoạn.
Trước khi sinh, mô xương phát triển mạnh nhất. Sau khi sinh, sự phát triển của mô xương giảm dần nhưng mô cơ và mô mỡ tăng. Ở cơ thể non, cường độ tích lũy protein mạnh, tuổi càng tăng thì khả năng này càng giảm và tích luỹ mỡ tăng. Tính không đồng đều còn thể hiện ở sự phát triển của bộ xương qua các lứa tuổi.
Trước khi sinh, xương ngoại vi phát triển mạnh hơn xương trục, sau khi sinh, xương trục phát triển mạnh làm cho cơ thể dài ra. Khi còn non, gia súc phát triển nhanh về chiều dài, tiếp theo là chiều sâu và cuối cùng là chiều rộng. Các cơ quan, tổ chức trong cơ thể cũng phát triển không đều phụ thuộc vào vị trí, chức năng và vai trò của chúng. + Quy luật sinh trưởng theo chu kỳ Quá trình sinh trưởng mang tính chu kỳ.
Tính chu kỳ thể hiện trong sự tăng sinh của tế bào có lúc mạnh, có lúc yếu, sau đó lặp lại. Sự lặp lại đó một cách nhịp nhàng tạo nên một sự phát dục có tính chu kỳ và các chu kỳ nối tiếp nhau (Nguyễn Ân và cs, 1994). Tính chu kỳ còn thể hiện trong hoạt động sinh lý của cơ thể.Tính chu kỳ trong hoạt động của hệ thần kinh biểu hiện ở trạng thái khi thì hưng phấn khi ức chế. Sự hưng phấn và ức chế đó cũng liên quan đến quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể.
Hoạt động sinh dục ở gia súc cái mang tính chu kỳ. - Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng Sinh trưởng của vật nuôi là tính trạng số lượng. Giá trị kiểu hình (P) của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng bao gồm giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 6 P=G+E Trong đó P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic value).
G: Giá trị kiểu gen (Genotypic value). E: Sai lệch môi trường (Enviromental deviation). + Ảnh hưởng của yếu tố di truyền Trong chăn nuôi lợn, yếu tố dòng, giống ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh trưởng và sinh sản. Các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau.
Tiềm năng di truyền về sinh trưởng của gia súc được thể hiện qua hệ số di truyền. Theo Hazen (1993), ở lợn bú sữa h2 = 0,15, sau cai sữa h2 cao hơn. Triebler (1982) cho rằng : Hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,021, thấp hơn so với ở thời kỳ sau cai sữa, vỗ béo. Hệ số di truyền về tăng khối lượng/ngày, tiêu tốn thức ăn, đều phụ thuộc vào giống, quần thể.
Theo Busse và cs (1986), hệ số di truyền về sinh trưởng ở giai đoạn 20 - 100 kg là 0,50, biến động 0,30 - 0,65. Sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày) có h2 = 0,15 (0,10 - 0,20). Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 30 - 100 kg có h2 = 0,47. Driox (1994) cho biết: Hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh trưởng như sau: Tăng khối lượng (g/ngày) có h2 = 0,3 - 0,4 ; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng có h2 = 0,25 - 0,35.
+ Ảnh hưởng của dinh dưỡng Dinh dưỡng đầy đủ và cân đối thúc đẩy quá trình sinh trưởng và ngược lại. Vật nuôi sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, thời gian nuôi được rút ngắn. Trong chăn nuôi lợn, chi phí thức ăn chiếm 70 - 80 % giá thành sản phẩm, do đó tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại. Giữa tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch, do đó khi nâng cao mức tăng khối lượng sẽ giảm chi phí thức ăn.
+ Ảnh hưởng của điều kiện chăm sóc, quản lý và thời tiết, khí hậu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 7 Điều kiện chuồng trại, chăm sóc, quản lý ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng của lợn ở bất kỳ giai đoạn nào. Thời tiết, khí hậu cũng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của lợn. Theo Trần Cừ và cs (1975), nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi khi lợn nái mới đẻ là 30 - 320C, lợn có khối lượng 30 kg là 260C, lợn có khối lượng 50 kg là 190C, lợn có khối lượng > 50 kg là < 190C. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn đực Hoạt động sinh dục là quá trình sinh lí quan trọng và cơ bản của gia súc trong việc duy trì nòi giống.
Nghiên cứu đặc điểm sinh lí sinh dục giúp chúng ta đưa ra các biện pháp kĩ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc và sử dụng hợp lý, nâng cao sức sản xuất của lợn đực giống. Đặc điểm của tinh dịch lợn - Tinh dịch: Tinh dịch là dịch tiết của cơ quan sinh dục đực, gồm 2 phần: Tinh trùng và tinh thanh + Tinh trùng: Thành phần quan trọng nhất trong tinh dịch là tinh trùng (Signret, 1971). Khi lợn đực đến tuổi thành tuổi thành thục về tính, dịch hoàn bắt đầu sản sinh ra tinh trùng. Tinh trùng là tế bào sinh dục đực đã qua kì phân chia giảm nhiễm, đã thành thục và có khả năng gây thụ thai”.
Dưới kính hiển vi điện tử với độ phóng đại 2.000 lần có thể quan sát thấy tinh trùng có dạng nòng nọc, chiều dài đầu gần gấp đôi chiều rộng, chiều dày không đáng kể, do đó đầu có dạng một tấm bầu rộng. Bên ngoài được bao bọc bởi một lớp màng bán thấm Lipoprotein dày 80 - 120 Ao Tinh trùng được chia làm 3 phần: Đầu, cổ - thân và phần đuôi. Đầu tinh trùng gồm 2 phần: Nhân và Acrsome. Nhân tinh trùng chiếm hầu hết phần đầu (76,7 - 80,3%) chứa các yếu tố di truyền.
Bản chất hoá học của nhân là Nucleoprotit. Nucleoprotit gồm 2 thành phần cơ bản là Histin và Nucleic được nối với nhau bởi cầu nối NH2-P. Mạch này dễ bị đứt bởi các tác động ngoại cảnh như cơ giớí, nhiệt độ, hoá chất,. Acrosome chứa Enzim thuỷ phân, đặc biệt Hyaluronidaza có tác dụng làm tan rã màng phóng xạ của tế bào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.