Chương I. Phần giới thiệu. Chương này nêu lên bối cảnh nghiên cứu và những mục tiêu cần phải nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh; câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương II.
Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan đến sinh kế, sinh kế bền vững; các chỉ số về sinh kế bền vững, khung lý thuyết về sinh kế của DFID; những nghiên cứu của các tổ chức quốc tế về vấn đề tái định cư. Chương III. Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày những thông tin tổng quan về chính sách giải tỏa đăng đáy của tỉnh BRVT; sơ lược về địa bàn nghiên cứu; quy trình nghiên cứu, cách thiết lập bảng hỏi nhằm thực hiện đánh giá các thông tin về hiện trạng sinh kế của người dân.
Chương IV. Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về sinh kế của người dân làm nghề đăng đáy sau khi bị giải tỏa tại địa bàn nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày tóm lược các kết quả quan trọng của đề tài, từ đó gợi ý các chính sách nhằm thực hiện tốt các chính sách sinh kế cho người dân sau khi bị giải tỏa đăng đáy. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Khái niệm về sinh kế: Sinh kế được hình thành dựa trên các yếu tố bao gồm năng lực của con người, tài sản vật chất và xã hội mà họ có thể tiếp cận và hoạt động cần thiết để phối hợp các nguồn lực trên nhằm mục đích kiếm sống (Robert Chambers và Gordon R.2 Sinh kế bền vững: Kết quả nghiên cứu của Ellis (2000) cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ.
Theo định nghĩa của Chamber và Conway (1991), sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả nghiên cứu của Reardon và Taylor (1996) về sinh kế cho thấy: Sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên. Barrett và Reardon (2000) cho rằng sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển. Tuy vậy, sự bền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 vững của tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không.
Sinh kế được gọi là bền vững khi nó có khả năng phản ứng tự vệ trước các tổn thương mà không cần sự hỗ trợ nhất thời từ bên ngoài, đồng thời không gây ảnh hưởng bất lợi đến sinh kế của người khác và không làm suy giảm nguồn tài nguyên có thể khai thác của các thế hệ tiếp theo (DFID, 1999).3 Khung phân tích sinh kế: Khung phân tích sinh kế bền vững DFID: Khung sinh kế bền vững DFID do Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) xây dựng là một công cụ để cải thiện sự hiểu biết của các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ về đời sống, đặc biệt là sinh kế của người nghèo. Khung sinh kế bền vững trình bày các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, và mối quan hệ điển hình giữa các bên. Nó có thể được sử dụng cho việc thực hiện kế hoạch hoạt động phát triển mới và đánh giá những đóng góp cho sự bền vững sinh kế được thực hiện bởi các hoạt động hiện có. Khung phân tích sinh kế bền vững được xây dựng trên cơ sở tài sản sinh kế bao gồm 05 nguồn lực: + Vốn vật chất: cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa con người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế; + Vốn xã hội: là nguồn lực mà các hộ gia đình và cá nhân sử dụng để thực hiện các mục tiêu sinh kế của họ bao gồm các yêu cầu xã hội, quan hệ cộng đồng, quan hệ với các tổ chức công quyền, đảng phái, các hội ngành nghề, hiệp hội; + Vốn con người: đại điện cho các nhận thức, khả năng làm việc và kiến thức nhằm phục vụ việc theo đuổi và đạt được các mục tiêu sinh kế của mình.
Vốn con người có vai trò rất quan trọng trong các nguồn vốn của hộ gia đình, nó quyết định việc quản lý và sử dung các nguồn vốn khác (như vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 + Vốn tự nhiên: nguyên liệu, nhiên liệu tự nhiên để tạo dựng các sinh kế như đất đai, rừng và nguồn nước tự nhiên mà con người bị phụ thuộc, sử dụng để tạo ra phương tiện cho sự tồn tại (Ellis, 2000). Có mối quan hệ chặt chẽ giữa nguồn vốn tự nhiên và bối cảnh dễ bị tổn thương (DFID, 1999). + Vốn tài chính: các khoản tài chính mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế như các khoản thu nhập, vốn tín dụng, trợ cấp. Dựa trên cơ sở của khung sinh kế, các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ có thể điều chỉnh các tác động của chính sách ảnh hưởng đến những tình huống dễ bị tổn thương hoặc thực hiện việc hỗ trợ, cải thiện sinh kế của người dân.
Bối cảnh dễ bị tổn thương: là các yếu tố đến từ môi trường bên ngoài tác động vào cuộc sống của người dân mà họ bị hạn chế hoặc không thể kiểm soát. Đó là những thay đổi có thể gây ra những cú sốc như: mất việc làm, thay đổi việc làm, mất đất sản xuất, thay đổi chổ ở, thay đổi môi trường sống, thay đổi mối quan hệ làng xóm, thay đổi tập quán, văn hóa, thay đổi nguồn thu nhập…v. Chính sách và tổ chức: các chính sách của các cấp chính quyền các cấp trong khu vực công được cụ thể hóa bằng luật và các văn bản dưới luật, các chương trình, kế hoạch hành động; các hoạt động và cấu trúc tổ chức hoạt động của các tổ chức chính quyền trong khu vực công, tổ chức hoạt động của khu vực tư nhân, tổ chức phi chính phủ. Chiến lược sinh kế: bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư, tái hoạt động sản xuất đầu tư….v của các hộ gia đình nhằm đạt được các mục tiêu sinh kế.
Kết quả sinh kế: là những kết quả mà hộ gia đình đạt được khi họ sử dụng nguồn vốn sinh kế để thực hiện các chiến lược sinh kế để nhằm mục đích tăng thu nhập nhiều hơn, giảm khả năng tổn thương, an ninh lương thực được cải thiện,công bằng xã hội được cải thiện, cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường sống bền vững, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Dựa trên việc sử dụng đồng thời các nguồn lực và các hoạt động khác nhau, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế là cách thức mà con người kết hợp các nguồn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lực như thế nào để sản xuất ra của cải vật chất và cung cấp các dịch vụ. Các cách thức sử dụng và kết hợp nguồn lực khác nhau sẽ tạo ra các kết quả sinh kế khác nhau. Khung sinh kế bền vững của DFID (Nguồn:DFID, 1999 ) 2.4 Chính sách tái định cư bắt buộc: Trong phần nghiên cứu, tác giả sử dụng Cẩm nang hướng dẫn thực hành về chính sách tái định cư bắt buộc của ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) làm cơ sở để đề xuất các kiến nghị và giải pháp về chính sách.
Cẩm nang hướng dẫn thực hành về chính sách tái định cư bắt buộc của ngân hàng Phát triển Châu Á được thông qua vào tháng 11 năm 1995 là một tài liệu mô tả quy trình tái định cư bắt buộc và các yêu cầu về hòa nhập các khía cạnh xã hội đối với chính sách tái định cư bắt buộc. Tài liệu mô tả chi tiết tất cả các vấn đề có liên quan đến việc tái định cư từ khái niệm đến các tác động và lập kế hoạch, sự tham gia của người dân và các chiến lược khôi phục thu nhập. Một số các thuật ngữ của ADB: + Đền bù: số tiền hoặc hiện vật trả cho người bị ảnh hưởng để thay thế tài sản, nguồn lực hoặc thu nhập bị mất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 + Quyền được hưởng: một loạt các biện pháp bao gồm đền bù, khôi phục thu nhập, chuyển giao viện trợ, thay thế thu nhập, và di chuyển mà người bị ảnh hưởng được hưởng, tùy theo tính chất của những mất mát họ phải chịu, để phục hồi lại cơ sở kinh tế và xã hội của họ.
+ Tái định cư bắt buộc: dự án phát triển dẫn đến những mát mát tái định cư không thể tránh khỏi, trong đó người bị ảnh hưởng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc xây dựng lại cuộc sống, thu nhập và cơ sở vật chất ở bất cứ một nơi nào khác. + Phục hồi: thiết lập lại thu nhập, kế sinh nhai, cuộc sống và các hệ thống xã hội. + Tỉ lệ thay thế: chi phí thay thế những tài sản và thu nhập bị mất, bao gồm cả chi phí giao dịch. + Những người bị ảnh hưởng: là những người hay hộ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi liên quan đến dự án trong việc sử dụng đất đai, nước và các tài nguyên thiên nhiên khác.
ADB cũng đưa ra một số khái niệm về các thiệt hại tái định cư, tổng kết các tác động tái định cư có thể xảy ra trong các loại dự án khác nhau.