Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Phát huy hiệu quả rừng trồng nói chung và rừng trồng sản xuất nói riêng là vấn đề mà các nhà khoa học luôn quan tâm nghiên cứu. Cơ sở khoa học cho việc phát triển trồng rừng sản xuất ở các nước phát triển đã tương đối hoàn thiện từ công tác giống tới các biện pháp tác động, phục vụ đắc lực cho sản xuất lâm nghiệp. Công tác nghiên cứu giống cây rừng Có thể nói, công tác nghiên cứu giống cây rừng góp phần quan trọng vào thành công của công tác trồng rừng sản xuất.
Từ thế kỷ 18, 19, những ý tưởng về công tác lai giống, sản xuất hạt giống và nhân giống sinh dưỡng cây rừng đã thu được một số thành tựu nhất định: Syrach Larsen đã sản xuất được một số cây lai có hình dáng đẹp và có ưu thế về sinh trưởng. Nilsson – Ehle (1973 – 1949) đã phát hiện ra Dương núi tam bội có sinh trưởng tốt hơn so với cây nhị bội. Các chương trình chọn giống được bắt đầu ở nhiều nước và tập trung cho nhiều loài sinh trưởng nhanh, trong đó có Keo. Tại Braxin đã tiến hành chọn cây trội, xây dựng vườn giống thụ phấn tự do cho loài E.
maculata ngay từ những năm 1952; tại Mỹ là loài E. Trong 3 năm (1970 – 1973), Úc đã chọn cây trội thành công cho loài E. regnans và loài E. diversicolor ở Úc và loài E.
deglupta ở Papua New Guinea cũng được tiến hành chọn cây trội ở rừng tự nhiên. Cho tới nay, ở nhiều nước trên thế giới đã có những giống cây trồng rừng cho năng suất rất cao nhờ những chương trình nghiên cứu chọn tạo giống mới như tại Brazil, những khu thí nghiệm Bạch đàn lai E. urophylla năng suất đạt 100m3/năm (Kageyama, 1984). Ở Công gô, năng suất rừng cũng đạt 40-50m3/ha/ năm.
Theo Covin (1990) tại Pháp và Ý, với năng 6 suất rừng đạt 40-50m3/ha/năm đã thu hút sự chuyển đổi hàng ngàn ha đất nông nghiệp thành rừng cung cấp nguyên liệu giấy cho hiệu quả kinh tế cao. Tại Thái Lan rừng Tếch cũng đã đạt sản lượng 15-20 m3/ha/năm. Cesar Nuevo (2000) đã có những khảo nghiệm về Keo có xuất xứ từ Úc và Papua New Guinea, các giống Lõi thọ ở các địa phương khác nhau thuộc Mindanao; trên cơ sở đó lựa chọn những xuất xứ tốt nhất để xây dựng vùng sản xuất giống. Chọn giống kháng bệnh cũng là hướng nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm.
Tại Braxin, Ken Old, Alffenas và các cộng sự từ năm 2000-2003 đã thực hiện một chương trình chọn giống kháng bệnh cho các loài Bạch đàn chống bệnh gỉ sắt Puccinia. Các công trình nghiên cứu về lai giống cũng đã mang lại nhiều kết quả tốt phục vụ trồng rừng sản xuất (Assis, 2000), (Paramathma, Surendran, 2000), (FAO, 1979),… 1. Những nghiên cứu về lâm sinh Để thực hiện thành công việc tạo ra những sản phẩm cây rừng một cách nhanh nhất và rẻ nhất, bên cạnh công tác giống, các biện pháp kỹ thuật trong tạo rừng cũng rất được quan tâm nghiên cứu.B Ball, Tj Wormald, L Russo (1995) khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã đặc biệt lưu ý đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loài. Matthew, J Kelty (1995) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu.
Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính. Qua đó có thể khẳng định việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết. Những nghiên cứu về phương thức, mật độ và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng khác cũng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, tạo cơ sở khoa học cho phát triển trồng rừng sản xuất trong thời gian qua. 7 Tại Malaysia, năm 1999 người ta đã tiến hành xây dựng rừng nhiều tầng hỗn loài trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và Tếch với 23 loài bản địa có giá trị trồng theo băng có chiều rộng khác nhau (10m, 20m, 30m, 40m) và phương thức hỗn giao khác nhau.
Kết quả đã cho thấy sinh trưởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m. Những khu đất đã bị thoái hoá mạnh cũng được cải tạo để trồng rừng mang lại hiệu quả cao. Mohamed và Abd. Razak Othman (2003) cho biết ở Malaysia người ta đã sử dụng các loài tre, luồng để phục hồi những lâm phần đã thoái hoá rất có hiệu quả.
Tre luồng có thể trồng ở những khu rừng sau khai thác trắng hoặc ở những khu vực bị khai thác quá mức. Đời sống trước mắt của người dân tham gia phát triển rừng trồng sản xuất cũng là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhất là tại những nước nghèo. Phillips (2001), để bảo vệ đất đồng thời phát triển kinh tế cho những hộ gia đình nghèo, ở Fuji người ta trồng một số loài tre luồng trên đồi mang lại hiệu quả cao; ở Indonesia, người ta đã áp dụng phương thức nông lâm kết hợp với cây Tếch,. Đây là một trong những hướng đi rất phù hợp đối với vùng đồi núi ở một số nước khu vực Đông - Nam châu Á, trong đó có nước ta.
Nghiên cứu về chính sách và thị trường Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất chính là hiệu quả về kinh tế. Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài. Đồng thời, phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng đối với người dân. Theo nghiên cứu của Ianuskơ K (1996), vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế có thể giải quyết được thông qua những kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách “đòn bẩy” nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng.
Waggener (2000), để phát triển trồng rừng sản xuất 8 đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn phải chú ý nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường. Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất này nên tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Canada,. nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá.
Trên quan điểm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B. Durst (2004) đã dẫn ra rằng rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau: Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước. Sở hữu tư nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ. Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội.
Liu Jinlong (2004) dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng như: Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá. Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước. Giảm thuế đánh vào các lâm sản. Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.
Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng. Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý chung, vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người dân. Có thể nói, đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia 9 trồng rừng ở Trung Quốc mà còn gợi những định hướng quan trọng cho phát triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhều đến các hình thức khuyến khích trồng rừng.
Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahannop (2004) ở Thái Lan, Ashadi and Nina Mindawati (2004) ở Indonesia,. Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là: Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất; Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ rừng trồng; Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân. Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia trồng rừng sản xuất, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng. Vì vậy, quan điểm chung để phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh rừng trồng (Hoàng Liên Sơn, 2005).
Ở Việt Nam Ngành lâm nghiệp nước ta đã có những bước tiến đáng kể trong những năm qua. Cùng với những đổi mới về công tác quản lý, hoạt động nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng rất được quan tâm. Các chương trình, dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả nước với nhiều mô hình rừng trồng sản xuất được thiết lập, nhiều biện pháp kỹ thuật đã được đúc rút xây dựng thành quy trình, quy phạm, phục vụ đắc lực cho công tác trồng rừng trong đó có trồng rừng sản xuất. Nghiên cứu giống cây trồng rừng Công tác giống cây trồng rừng trong những năm gần đây vừa là sự áp dụng những thành tựu mới của các nước khác, vừa là sự kế thừa những nghiên cứu đã xây dựng trước đây mà cho tới nay mới thấy rõ kết quả.