Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Khoảng thời gian giữa hai lần lặp lại liên tiếp của một sự việc, hay thời gian để kết thúc một vòng quay, một chu trình được xác định hay hiểu là chu kỳ. Như vậy đơn vị đo chu kỳ là đơn vị đo thời gian (Nguyễn Văn Đệ và Cs, 2005). Do đó, chu kỳ kinh doanh rừng trồng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế được hiểu là chu kỳ làm tối đa hóa giá trị hiện tại ròng (NPV) từ số các chu kỳ/ luân kỳ khai thác trong một thời hạn giao đất (Nguyễn Quang Hà và Dương Thị Thanh Tân, 2016; Borges và cộng sự, 2014).
Khi đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng, phương pháp tính toán đêu dựa trên sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Một số phương pháp khác nhau được sử dụng để đánh giá như: - Hiệu số giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào. - Tỷ số giữa chi phí và kết quả. - Tỷ số giữa phần gia tăng của kết quả và phần gia tăng của chi phí.
- Tỷ số giữa mức kết quả thực tế với kết quả tối đa. - Tỷ số giữa chi phí tối thiểu và chi phí thực tế. Các tiêu chí sử dụng cho xác định tuổi khai thác rừng trồng (Trần Thị Thu Hà và Cs, 2017): - Tiêu chí tối đa hóa sản lượng rừng trồng (MGY - Maximum Gross Yield): khi tăng trưởng của rừng bằng không, trữ lượng đạt giá trị cực đại: pQT = 0 = QT; Tuy nhiên, Tiêu chí này hiện không còn được áp dụng bởi nó bỏ qua các yếu tố quan trọng như chi phí trồng rừng, xuất chiết khấu và giá trị của đất trồng rừng. - Tiêu chí tối đa hóa tăng trưởng rừng bình quân năm (CMAI - Culmination of Mean Annual Increment)- hay tối đa hóa sản lượng rừng bền vững về mặt sinh học (MSY - Maximum Sustained Yield): ưu điểm của tiêu chí này là tương đối đơn giản, thuận lợi cho việc lập kế hoạch và quản lý, nhưng nhược điểm là bỏ qua khía cạnh kinh tế trong xác định chu kỳ kinh doanh rừng trồng như chi phí trồng rừng, giá gỗ, lãi suất.
6 - Tiêu chí tối đa hóa thu nhập thuần hàng năm (Maximization of Annual Net Revenue): tiêu chí này xác định luân kỳ khai thác rừng tối ưu rất gần với tiêu chí tối đa hóa tăng trưởng bình quân (CMAI), điểm khác biệt là tính đến chi phí trồng rừng. - Tiêu chí tối đa hóa tốc độ tăng của vốn đầu tư (Maximization of the Rate of Growth of Capital: tối đa hóa tỷ lệ sinh lợi (Rate of Return) hay tối đa hóa IRR; tiêu chí này được thiết lập trên giả định là yếu tố cố định trong trồng rừng không phải là đất đai, mà là vốn đầu tư và từ đó mục tiêu của kinh doanh rừng trồng là tối đa hóa tỷ lệ sinh lợi của vốn. - Tiêu chí tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ một luân kỳ trồng rừng (Maximization of Present Net Worth- PNW from a single rotation): tiêu chí này giả thiết chủ rừng trồng theo đuổi mục tiêu giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ đầu tư vào rừng trồng trong 1 luân kỳ, không quan tâm đến các luân kỳ tiếp theo, nghĩa là không tính đến chi phí cơ hội của sử dụng đất. - Tiêu chí tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ vô số các luân kỳ trồng rừng (Maximization of the Discounted Net revenue from an Infinite rotations): Faustmann năm 1894 đề xuất sử dụng đầu tiên và sau đó bởi Pressler và Ohlin, nên còn được gọi là mô hình FPO; Các tên gọi sử dụng nguyên lý tương tự với mô hình này là SL (soil rent), SEV (soil expectation value) hoặc LEV (land expectation value); tiêu chí này giả định rừng sẽ được tiếp tục trồng ở các luân kỳ tiếp theo, nghĩa là quyết định về luân kỳ khai thác rừng hiện tại chịu ảnh hưởng của các khả năng sinh lợi trong tương lai.
Tiêu chí và công thức Faustmann trong xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu 1. Tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu Xác định chu kỳ hay tuổi khai thác tối ưu/ hợp lý (optimal forest rotation) là vấn đề cổ điển trong kinh tế và quản lý lâm nghiệp. Do vậy, các nghiên cứu về vấn đề này đã được thực hiện từ rất sớm - từ cuối thế kỷ 19, được bổ sung, được sử dụng cho đến ngày nay. Tiêu chí xác định tuổi khai thác rừng thường dựa trên các quan điểm về sinh thái và kinh tế đã được đưa vào các sách giáo khoa về kinh tế, quản lý tài nguyên.
Tuy nhiên, các tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh rừng trồng 7 vẫn tiếp tục là vấn đề đang được tiếp tục đặt ra cả về lý luận trong kinh tế, quản lý lâm nghiệp và ứng dụng trong thực tiễn. Các hạn chế khi vận dụng các tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu cổ điển Các tiêu chí trong lý thuyết chu kỳ kinh doanh tối ưu nêu trên vào thực tiễn có hạn chế là chủ yếu xuất phát từ các giả thiết và tiêu chí sử dụng có khoảng cách khá xa với thực tiễn. Các giả thiết đó là: - Rừng trồng đều tuổi, khai thác trắng: rừng được trồng từ đất trống và khai thác toàn bộ số cây trong cùng một thời gian. - Tính toán dựa trên hàm tăng trưởng của rừng, giá gỗ, lãi suất và chi phí trồng rừng.
- Giá đơn vị gỗ rừng trồng (cây đứng) không phụ thuộc vào tuổi rừng khai thác. Nghĩa là thu nhập từ rừng trồng/ đơn vị diện tích chỉ phụ thuộc vào sản lượng sản phẩm gỗ khai thác /đơn vị diện tích, mà không phụ thuộc vào chất lượng gỗ ở các cấp tuổi khác nhau. - Sản lượng gỗ rừng trồng là một hàm của 1 biến là thời gian (tuổi rừng trồng). Hầu hết các nghiên cứu ở thời kỳ đầu, như Gaffney (1957), Goundrey (1960), Pearse (1967) Samuelson (1976) đều giả thiết dạng hàm lồi (concave) của hàm sản lượng gỗ với tuổi rừng: F = V(T) ; với F’ (T) > 0 và F’’ (T) < 0 F’(T) và F’’(T) ký hiệu đạo hàm bậc nhất và bậc hai của F theo T.
Trong thực tế, hàm tăng trưởng rừng trồng phụ thuộc rất lớn vào phương thức canh tác, nhất là chế độ tỉa thưa được thiết kế theo mục đích kinh doanh (gỗ lớn, gỗ nhỏ) nên giả thiết nói trên là khó có thể đáp ứng được. Công thức Faustmann trong xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu được coi là mô hình xác định luân kỳ khai thác rừng trồng ưu việt nhất, bởi nó tính đến hầu hết các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của chủ rừng như chi phí trồng rừng, thu nhập từ gỗ (sản lượng và giá gỗ), lãi suất và chi phí cơ hội của đất trồng rừng sau khai thác. Theo quan điểm này, hàm mục tiêu của kinh doanh rừng trồng là: V(T)= max(T) 8 Với: T - thời gian (tuổi rừng). p - giá ròng của gỗ cây đứng.
r - tỷ lệ chiết khấu. wE - Chi phí trồng rừng (đơn giá nhân cường độ thâm canh) Q(T) - hàm tăng trưởng của sản lượng gỗ rừng. Để tối đa hóa lợi nhuận từ kinh doanh rừng trồng thuần loài, đều tuổi ta có thể tiếp cận mô hình của Faustmann (1849) [23] với một số giả thiết như sau: (1) Chỉ tính đến lợi ích từ gỗ, bỏ qua các ngoại ứng có ích khác từ rừng trồng như bảo vệ môi trường, dịch vụ sinh thái; (2) Thị trường vốn cạnh tranh hoàn hảo, vốn được vay trên thị trường và cho vay với số lượng, tùy ý ở mức lãi suất thịnh hành trên thị trường; (3) Giá cây đứng của gỗ không phụ thuộc vào tuổi rừng; (4) Hàm tăng trưởng của lâm phần theo tuổi thỏa mãn tính chất: f’(T)>0, f’’(T)<0. Trong đó f(T) là hàm tăng trưởng (m3/ha), T là tuổi lâm phần; Các giả định trên là chấp nhận được đối với rừng trồng nguyên liệu giấy sợi, bởi giá gỗ nguyên liệu được bán không căn cứ vào tuổi của cây gỗ và các hàm tăng trưởng của lâm phần được sử dụng phổ biến trên thế giới.
Mục tiêu đặt ra đối với người chủ rừng là xác định tuổi khai thác sao cho lợi nhuận (đã quy đổi về giá trị hiện tại) từ rừng trồng là cực đại, lợi nhuận này không chỉ tính cho 1 luân kỳ mà tính cho một số vô hạn các luân kỳ tiếp theo. T là chu kỳ kinh doanh (tuổi khai thác của lâm phần (năm)); f(T) là hàm tăng trưởng của lâm phần (m3/ha); p là giá cây đứng ở 1 m3 gỗ nguyên liệu; k là chi phí trồng rừng (tính theo giá trị ở thời điểm đầu luân kỳ thứ nhất); r là tỷ lệ lãi suất thực tế của vốn đầu tư trong nền kinh tế (%/năm). Ta có bài toán tối đa hóa lợi nhuận sẽ là: MaxV(T) = [pf(T)e-rT - k] + [pf(T)e-rT - k]e-rT + [pf(T)e-rT - k]e-2rT + … 9 Biến đổi biểu thức tính V(T): Điều kiện cần để V(T) cực đại là đạo hàm bậc nhất của nó theo T bằng không. Tính đạo hàm bậc nhất của V(T) và đặt bằng không, ta có điều kiện cực đại hóa giá trị hiện tai của lợi nhuận từ lâm phần trồng rừng là: pf’(T*) = rpf(T*) + rV(T*) T* thỏa mãn phương trình (2) là đáp số của bài toán xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu.
Phân tích phương trình này, ta thấy thời điểm tối ưu cho khai thác rừng là khi giá trị tăng trưởng của rừng là khi giá trị tăng trưởng của rừng (pf’(T)) bằng lãi suất từ giá trị của đất rừng (rV(T)). Đây là điều kiện phổ biến trong giải bài toán tối ưu trong kinh tế học: Vế trái của phương trình là lợi ích biên của việc để cho rừng tiếp tục sinh trưởng (chưa khai thác), còn vế phải của phương trình là chi phí biên của việc trì hoãn khai thác đó. Lãi suất lẽ ra sẽ thu được nếu khai thác rừng, bao gồm lãi suất từ giá trị cây đứng hiện có và lãi suất từ lợi nhuận rừng trồng của các luân kỳ tiếp theo (địa tô từ đất trồng rừng). Từ phương trình xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu trên, ta có thể xác định ảnh hưởng của các tham số giá cây đứng p, chi phí trồng rừng k và lãi suất r đến chu kỳ kinh doanh rừng tối ưu bằng cách tính đạo hàm của T* theo các tham số tương ứng.
Kỹ thuật tính toán sẽ là tính vi phân toàn phần của phương trình (2) lần lượt theo các tham số.