CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tính cấp thiết của đề tài Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người và môi trường. RNM cung cấp các nguyên vật liệu cho cuộc sống của người dân như gỗ, củi, thủy sản…RNM giúp điều hoà nhiệt độ, duy trì tính ổn định và sự màu mỡ của đất, giảm bớt tình trạng nhiễm mặn, cung cấp thức ăn, là nơi trú ngụ và nơi sinh sản cho cả động vật dưới nước cũng như trên cạn. Ngoài ra, RNM còn điều hoà khí hậu, tham gia kiến tạo bảo vệ cảnh quan ven bờ, hạn chế bão gió, lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đê ven biển, chống xói lở bờ biển,.
Đặc biệt, RNM góp phần làm sạch môi trường do có thể làm giảm hàm lượng kim loại nặng có trong nước thải nội địa đổ ra vùng cửa sông, ven biển, đồng thời giữ cân bằng sinh thái tự nhiên cho những vùng đất ngập nước và vùng cửa sông ven biển. Theo nghiên cứu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu, dự đoán đến cuối thế kỷ này mực nước biển có khả năng dâng 18-59cm [40]. Nguyên nhân là do nhiệt độ tăng ở các đại dương, băng tan ở đảo Greenland và Nam Cực (thêm một số nơi khác), sự thay đổi của địa hình trên các lục địa [45]. Ở Việt Nam, trong một thập kỷ qua mực nước biển đã dâng trung bình từ 2,5-3 mm/năm [3].
Hiện tượng này tăng làm gia tăng xuất hiện lũ lụt và xâm nhập mặn, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của RNM và dần dần dẫn đến thay đổi phân bố của các loài [13]. Đối với RNM, nước biển dâng (NBD) được coi là thách thức lớn nhất do biến đổi khí hậu (BĐKH) đem lại [37]. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng RNM có nguy cơ mất đi với một tỷ lệ nhất định khi mực nước biển tăng đều 1cm/năm [43]. Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km và có hai trong số các đồng bằng trũng nhất thế giới đó là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Các nghiên cứu về kịch bản nước biển dâng của Viện khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường [3] đã mô phỏng mực nước biển dâng 40 cm vào năm 2050 và 100 cm vào năm 2100. Kết quả nghiên cứu này cho thấy Việt Nam hiện đang được đánh giá ở mức rủi ro cao bởi các kịch bản nước biển dâng. Trong một phân tích so sánh giữa 84 quốc gia đang phát triển của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp trong danh sách 5 nước hàng đầu chịu ảnh hưởng bất lợi của mực NBD [45]. Dọc ven biển phân bố nhiều vùng đất thấp rất dễ bị tổn thương do BĐKH và nước biển dâng (NBD).
Khoảng 50% dân số, 50% các khu đô thị lớn và nhiều khu dân 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cư ở Việt Nam phát triển tập trung ở dải ven biển và có sinh kế phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên của vùng này. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, BĐKH và NBD ở Việt Nam có khả năng gây tổn thương cho toàn vùng ven biển và vùng ĐBSH và ĐBSCL. Dasgupta vànnk (2007)[32] dựa trên các kết quả phân tích cho thấy Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới sẽ bị tổn thương cao nhất do NBD và là nước có khả năng bị tổn thương cao nhất ở Đông Á. Theo các tác giả này, mực nước biển dâng 1m sẽ làm ảnh hưởng khoảng 5% diện tích, 11% dân số, 7% sản lượng nông nghiệp và làm giảm 10% GDP của Việt Nam.
Carew-Reid (2007) [30] sử dụng số liệu địa hình số để mô phỏng ngập lụt do nước biển dâng 01m và đã xác định rằng ĐBSH và ĐBSCL là hai khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, (2012) [4], xây dựng chi tiết kịch bản BĐKH, NBD cho Việt Nam. Trong đó có tính toán cho khu vực ĐBSH cho thấy nếu mực NBD 1m, một phần khá lớn diện tích các tỉnh, thành phố Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và một phần của các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình có cao độ mặt đất thấp hơn mực nước trung bình, do vậy sẽ bị ngập lụt nặng nếu vỡ đê. Nước biển dâng sẽ gây hậu quả nghiêm trọng tới sinh kế và cuộc sống của người dân tại khu vực ven biển.
Mức độ ảnh hưởng tới kinh tế, xã hội của NBD là rất lớn. Các vùng đất trũng thấp (lowland) mầu mỡ với các hệ sinh thái ven biển khác nhau sẽ bị ngập lụt và nhiễm mặn. Các vùng nuôi trồng thủy sản phải di chuyển tới những nơi khác. Nghề cá nhỏ ven bờ bị ảnh hưởng nặng nề.
Các đặc trưng của các khu vực lân cận không bị ngập lụt thường xuyên có thể bị ảnh hưởng và do vậy các khu vực này không còn phù hợp cho sản xuất nông nghiệp. Thí dụ, công tác cấp nước tưới cho cây trồng có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng do nước bị nhiễm mặn. Các vùng cửa sông có thể bị thay đổi do thay đổi chế độ triều và dòng chảy. Đa dạng sinh học vùng ven biển của Việt Nam có thể bị suy giảm mạnh và các nơi sinh cư (habitat) đặc thù của động vật biển có thể bị biến mất.
Các quan trắc gần đây cho thấy, tăng độ muối gây ra sự thay đổi từ từ trong phân bố các loài thực vật trong RNM. Điều này dẫn tới sự suy giảm hay biến mất hoàn toàn của RNM tại các khu vực đất thấp. Khu vực có RNM càng bị suy giảm thì càng bị ảnh hưởng mạnh bởi xâm nhập mặn và xói lở bờ biển, và càng tăng mức độ dễ bị tổn thương do thiên tai, như nước dâng trong bão. Các vùng sình lầy ven biển là khu vực 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh sống của nhiều loài thủy sản và chim nước, chim di cư sẽ bị đe doạ do nước biển dâng.
Tương tự như thế, các bãi cát là khu vực các loài rùa biển đẻ trứng có thể bị ngập sâu hơn ở mức độ khác nhau so với ban đầu. Nhiệt độ nước biển, bức xạ tăng, độ pH giảm (hiện tượng nước biển bị axit hóa) và các loài tảo độc bùng phát,.sẽ tác động mạnh đến các giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái (HST) ven biển – cơ sở hạ tầng tự nhiên của vùng bờ biển và là chỗ dự sinh kế của cộng đồng dân địa phương ven biển. Nguồn nước ngọt sinh hoạt có thể bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn. Cộng đồng dân cư sinh sống ở ven biển dễ bị tổn thương do ngập lụt có thể sẽ phải di dời.
Điều này gián tiếp làm tăng áp lực khai thác các HST ven biển, đặc biệt gia tăng nạn phá RNM để chuyển đổi mục đích sử dụng. Kết quả là đa dạng sinh học sẽ bị suy giảm, xói lở bờ biển gia tăng và ngập lụt vùng ven biển trở nên nghiêm trọng hơn. Do đó, nhiệm vụ nghiên cứu các tác động và đánh giá mức độ tổn thương của BĐKH tới các HST, tới sinh kế và cộng đồng dân cư ven biển, từ đó đưa ra các giáp pháp ứng phó (thích ứng và giảm nh ) thiệt hại do BĐKH gây ra là rất cấp thiết. Tỉnh Nam Định nói chung và khu vực huyện ven biển Giao Thủy nói riêng, trong đó có Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thủy thuộc ven biển ĐBSH, là nơi thường xuyên hứng chịu nhiều thiên tai liên quan tới BĐKH như bão, lũ lụt, sạt lở, hạn hán, NBD, xâm nhập mặn,.VQG Xuân Thủy cũng là Khu Ramsar quốc tế, nơi trú đông của nhiều loài chim nước từ các vùng cực của thế giới bay tới cư trú.
Trong VQG này, RNM là HST tiên phong, cùng với các HST khác như bãi triều lầy, cồn cát, bãi cát,.đã cung cấp các giá trị dịch vụ quan trọng, đặc biệt có khả năng thu và giữ cacbon thừa gây hiệu ứng nhà kính và nhiều chức năng quan trọng khác. Tuy nhiên, khu vực VQG Xuân Thủy cũng đang đứng trước các thách thức do BĐKH diễn ra ngày càng rõ ràng và để chủ động giảm nh tác động của BĐKH đến sinh kế của cộng đồng dân cư sống trong và lân cận khu VQG Xuân Thủy. Cho nên, việc chọn đề tài luận văn: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định” là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễnđối với hoạt động quản lý và bảo tồn khu vực quan trọng này. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Biến đổi khí hậu và tác động của nó đến vùng ven biển 1. Khái quát về Biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình theo một xu hướng nhất định và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do hai nguyên nhân: tự nhiên và do con người (nhân tác). BĐKH xảy ra trong quá khứ là do các nguyên nhân tự nhiên nhưng BĐKH hiện nay chủ yếu do con người gây ra, đã thúc đẩy và cường hóa những biến đổi tự nhiên vốn có.
Các hoạt động phát triển với nhịp độ cao trong các lĩnh vực khác nhau đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S, các khí CFCs và nhất là CO2) trong khí quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu. Mặc dù BĐKH tự nhiên là một quá trình tự vận động của Trái đất, nhưng BĐKH ngày nay lại là sự thay đổi nhanh chóng của khí hậu hiện tại với các nguyên nhân do con người gây ra [IPCC, 2007] [38]. Các biểu hiện chính của BĐKH toàn cầu đã quan sát được gồm: - Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng; - Lượng mưa thay đổi làm thay đổi dòng chảy ở các hệ thống sông; - Mực nước biển dâng lên do băng tan ở các Cực, các đỉnh núi cao và sự dãn nở của nước biển do nhiệt độ tăng; - Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán.) xảy ra với tần suất, mức độ bất thường và có thể cả cường độ tăng lên. BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm cả các lĩnh vực của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu.