Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là quốc gia xếp thứ 7 trong số 75 quốc gia chịu rủi ro thiên tai lớn nhất thế giới xét theo tỷ lệ thiệt hại GDP, với 33,2% tổng diện tích đất tự nhiên, 75,7% dân số và 89% quy mô kinh tế nằm trong vùng nhạy cảm với các hiểm họa tự nhiên. Hàng năm, các đợt sạt lở đất đá dọc theo các tuyến đường huyết mạch miền núi làm dịch chuyển hàng trăm nghìn mét khối vật liệu vụn và cướp đi sinh mạng của khoảng 30 người. Khu vực Đèo Gió thuộc thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn nằm trên hành lang Quốc lộ 3 từ Km 199 đến Km 205 kết nối Hà Nội - Cao Bằng, là điểm nóng trượt lở nghiêm trọng với địa hình phân cắt mạnh có độ cao từ 280 m đến 960 m so với mực nước biển.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa phương pháp luận đánh giá rủi ro trượt lở theo tiêu chuẩn quốc tế, điều tra toàn diện hiện trạng cùng cơ chế phát sinh sạt lở tại khu vực Đèo Gió, từ đó tính toán định lượng rủi ro đối với người tham gia giao thông và kết cấu hạ tầng đường bộ. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian thung lũng Bản Mạch và 6 km đường đèo hiểm trở, khai thác chuỗi số liệu khí tượng quan trắc 40 năm (1961-2000) cùng 5 năm số liệu chuyên sâu (2001-2005) tại trạm Ngân Sơn với lượng mưa trung bình năm 1.630,9 mm. Đề tài mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp giải pháp dự báo giúp giảm thiểu 70% đến 80% nguy cơ thiệt hại kinh tế và tối ưu hóa ngân sách khắc phục sạt lở lên tới hàng chục tỷ đồng cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết đánh giá rủi ro xác suất có điều kiện của Morgan (1992) kết hợp khung phân tích của Viện Địa kỹ thuật Na Uy. Mô hình rủi ro tính mạng cá nhân được xác lập qua phương trình tích số R(DI) = P(H) × P(S/H) × P(T/S) × V(L/T), trong đó P(H) là xác suất trượt lở hàng năm, P(S/H) là khả năng tác động không gian, P(T/S) là khả năng phơi nhiễm thời gian và V(L/T) là độ tổn thương con người. Song song đó, rủi ro tài sản được định lượng qua công thức R(DP) = P(H) × P(S/H) × V(P/S) × E với E là giá trị kinh tế của công trình chịu tải.

Hệ thống lý thuyết cơ học đất không bão hòa và trạng thái cân bằng giới hạn bờ dốc được triển khai qua hàm trạng thái G(X) = F(X) - 1, kết hợp phương pháp lát mỏng Bishop rút gọn và Janbu rút gọn để xác định hệ số an toàn F. Nghiên cứu cũng tích hợp mô hình động học lan truyền mảnh vụn của Corominas (1996), mô hình khối liên tục cải tiến của Hungr (1995), ma trận tổn thương Leone (1996) và hệ thống phân loại ưu tiên mái dốc NPCS của Cục Địa kỹ thuật Hồng Kông nhằm phân tích toàn diện 5 khái niệm cốt lõi: Tính nhạy cảm trượt lở, Độ tổn thương vật thể, Áp lực nước lỗ rỗng dư, Góc ma sát biểu kiến và Sức chống cắt bão hòa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành lấy 16 mẫu đất thí nghiệm (ký hiệu từ ĐG1 đến ĐG16) dọc theo tuyến Quốc lộ 3 từ Km 199+280 đến Km 204+550. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập cả mẫu nguyên trạng và mẫu phá hủy đại diện cho tầng vỏ phong hóa sườn tàn tích dày trung bình 4 m đến 5 m phát triển từ đá gốc hệ tầng Mia Lé.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được tập hợp qua 2 đợt điều tra thực địa năm 2011, lập phiếu mô tả 11 thông số hình học và cơ lý cho 23 khối trượt thực tế. Dữ liệu thứ cấp bao gồm chuỗi lượng mưa 40 năm tại trạm Ngân Sơn và bản đồ địa chất, địa hình tỷ lệ 1:10.000. Phương pháp mô phỏng số trên phần mềm chuyên dụng GeoSlope (mô-đun Slope/W) được lựa chọn vì khả năng giải quyết chính xác bài toán dòng thấm bão hòa từng phần dưới tác động của các đợt mưa lớn cực đoan, kết hợp công nghệ Hệ thông tin địa lý (GIS) để chồng lớp bản đồ độ dốc, hướng dốc và tính nhạy cảm trượt lở trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu 2010 - 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa đã phát hiện và lập hồ sơ hiện trạng cho 23 khối trượt (ký hiệu từ K1 đến K23) phân bố dày đặc từ Km 199 đến Km 205+50m, phát triển mạnh mẽ trên các taluy đào đắp có góc dốc tự nhiên từ 35 độ đến trên 50 độ. Các khối trượt có thể tích từ vài trăm đến hàng nghìn mét khối đất đá, từng gây chia cắt giao thông nghiêm trọng trong các đợt sạt lở đỉnh điểm năm 2005 và 2006.

Kết quả thí nghiệm cơ lý 16 mẫu đất cát lẫn sét tàn tích cho thấy đất có hệ số rỗng tự nhiên rất lớn e = 1,13 (dao động từ 0,85 đến 1,54), độ rỗng n = 52,7% và độ ẩm bão hòa Wbh = 36,05%. Khi đất chuyển từ trạng thái ẩm tự nhiên sang trạng thái bão hòa nước hoàn toàn, góc ma sát trong phi giảm từ 28,28 độ xuống 25,12 độ, lực dính đơn vị c sụt giảm mạnh 33,4% từ 21,42 kPa xuống còn 14,27 kPa. Đối với các mẫu đất san lấp đã đầm chặt (ĐG9 và ĐG11), dung trọng khô cực đại đạt 1,50 đến 1,56 g/cm3 nhưng lực dính bão hòa vẫn ở mức thấp từ 6,37 kPa đến 13,77 kPa.

Phân tích thủy văn khẳng định lượng mưa là yếu tố kích hoạt trực tiếp. Lượng mưa trung bình năm tại Ngân Sơn đạt 1.630,9 mm, trong đó 3 tháng mùa mưa cao điểm (tháng 6 đạt 267,5 mm; tháng 7 đạt 331,5 mm; tháng 8 đạt 281,9 mm) chiếm tới 54% tổng lượng mưa cả năm. Phân tích ổn định mái dốc bằng phần mềm Slope/W tại các vị trí ĐG2, ĐG3, ĐG12 và ĐG16 chỉ ra rằng ở điều kiện tự nhiên, bờ dốc có hệ số ổn định an toàn F dao động từ 1,25 đến 1,48. Tuy nhiên, khi xảy ra mưa lớn kéo dài làm đất bão hòa và xuất hiện dòng thấm mặt, hệ số an toàn F tụt giảm sâu xuống dưới ngưỡng cân bằng 1,0 (chỉ còn 0,72 đến 0,91), dẫn tới sụp đổ mái dốc tức thì.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân gây trượt lở tại Đèo Gió là kết quả tương tác phức hợp giữa điều kiện tự nhiên nội sinh và tác động nhân sinh. Về địa chất, hệ tầng Mia Lé (D1 ml) chiếm 90% diện tích gồm các lớp đá phiến sét-sericit phân lớp mỏng, bị dập vỡ nứt nẻ mạnh do hoạt động của hai hệ thống đứt gãy kiến tạo phương á kinh tuyến và á vĩ tuyến. Khi con người tiến hành đào bạt chân sườn dốc để mở rộng Quốc lộ 3 mà không có giải pháp gia cố phù hợp, sườn dốc rơi vào trạng thái cân bằng giới hạn. Khi gặp các trận mưa bão mùa hè tập trung, nước mưa thấm sâu làm tăng trọng lượng khối trượt và giảm mạnh ứng suất kháng cắt.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các mô hình trượt lở sườn dốc nhiệt đới của Viện Địa kỹ thuật Na Uy và các nghiên cứu địa chất tại vùng Tây Bắc Việt Nam, khẳng định mưa lớn là tác nhân chiếm trên 85% các vụ tai biến mái dốc đường bộ. Về mặt trình bày trực quan, các dữ liệu phân tích ổn định được mô tả sinh động thông qua biểu đồ nén chặt Protor thể hiện tương quan giữa độ ẩm tối ưu 17,3% và dung trọng khô, kết hợp cùng các mặt cắt phân mảnh lát mỏng 2D Bishop và bảng ma trận tổn thương phương tiện giao thông theo từng kịch bản lượng mưa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống rãnh đỉnh đón nước, rãnh cơ phân tầng và khoan các lỗ tiêu nước ngầm sâu có đường kính 50 mm đến 100 mm tại 23 vị trí xung yếu dọc tuyến Đèo Gió. Giải pháp này nhằm hạ thấp mực nước ngầm cục bộ, triệt tiêu 60% đến 70% áp lực nước lỗ rỗng dư trong các đợt mưa bão vượt 100 mm/ngày. Kế hoạch triển khai hoàn thành vào Quý 2/2027 do Ban Quản lý Dự án Giao thông tỉnh Bắc Kạn chủ trì thực hiện.

Thứ hai, thi công gia cố cơ học kết hợp giữa tường chắn bê tông trọng lực tại chân taluy âm và hệ thống đinh đất kết hợp phun bê tông lưới thép tại các taluy dương từ Km 201 đến Km 204. Mục tiêu là nâng hệ số an toàn ổn định sườn dốc F đạt tối thiểu 1,30 trong mọi kịch bản bão hòa nước. Thời gian thực hiện từ năm 2027 đến 2028 với nguồn vốn đầu tư từ Tổng cục Đường bộ Việt Nam.

Thứ ba, áp dụng giải pháp công nghệ sinh học bằng việc gieo trồng cỏ vetiver kết hợp cây bụi họ đậu bản địa trên diện tích hơn 15.000 m2 bề mặt mái dốc phong hóa dày 4 m đến 5 m. Hệ rễ sâu 2 m đến 3 m của cỏ vetiver sẽ tạo mạng lưới giằng giữ đất tự nhiên, giúp giảm 85% nguy cơ xói mòn rãnh mặt sườn. Thời gian thực hiện thường niên vào đầu mùa mưa tháng 3 và tháng 4 do Hạt Quản lý Đường bộ Ngân Sơn phối hợp cùng cộng đồng dân cư thị trấn Nà Phặc.

Thứ tư, thiết lập 02 trạm quan trắc mưa tự động kết hợp cảm biến đo dịch chuyển nứt đất thời gian thực tại Km 203 và đỉnh Đèo Gió, liên kết hệ thống biển báo điện tử thông minh. Hệ thống tự động phát tín hiệu cảnh báo rủi ro sạt lở đến hơn 500 lượt phương tiện lưu thông mỗi ngày khi lượng mưa tích lũy 24 giờ vượt ngưỡng tới hạn 120 mm. Tiến độ hoàn thành đưa vào vận hành trước Quý 4/2027 do Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Kạn phối hợp với cơ quan khí tượng thủy văn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, kỹ sư địa kỹ thuật và tư vấn thiết kế hạ tầng giao thông miền núi: Luận văn cung cấp trọn bộ thông số cơ lý đất tàn tích (dung trọng 1,55 g/cm3, góc ma sát trong 25 đến 28 độ) cùng quy trình phân tích ổn định bờ dốc bằng GeoSlope, làm cơ sở tính toán thiết kế taluy đường đèo an toàn.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai tỉnh Bắc Kạn: Ứng dụng bản đồ hiện trạng 23 điểm trượt và ma trận tổn thương để xây dựng phương án sơ tán dân cư thung lũng Bản Mạch, phân luồng giao thông Quốc lộ 3 và lập dự toán ngân sách dự phòng thiên tai hàng năm.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên sau đại học chuyên ngành Địa chất công trình, Địa kỹ thuật và Địa mạo: Tài liệu cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về đánh giá rủi ro định lượng theo Morgan (1992) và cơ chế thấm trong đất không bão hòa.

Thứ tư, các doanh nghiệp xây dựng và bảo trì đường bộ: Nắm bắt các quy chuẩn đầm chặt đất san lấp đạt dung trọng khô 1,56 g/cm3 và phương pháp tối ưu hóa chi phí bốc xúc hàng nghìn mét khối đất đá tràn lấp mặt đường sau mỗi mùa bão lũ.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi gây sạt lở nghiêm trọng tại khu vực Đèo Gió là gì?

Sạt lở là hệ quả của địa hình dốc trên 35 độ, cấu tạo đá phiến sét hệ tầng Mia Lé nứt nẻ mạnh và mưa lớn tập trung 1.630,9 mm/năm. Khi mưa cao điểm vào tháng 6 đến tháng 8 chiếm 54% lượng mưa cả năm, đất bão hòa làm lực dính sụt giảm 33,4% (từ 21,42 kPa xuống 14,27 kPa), khiến hệ số an toàn F giảm dưới 1,0 và gây sạt lở hàng loạt tại các taluy đào mở đường.

Mô hình tính toán rủi ro trong luận văn có độ tin cậy khoa học như thế nào?

Luận văn ứng dụng công thức xác suất có điều kiện của Morgan (1992) chuẩn quốc tế kết hợp phần mềm GeoSlope và phương pháp FOSM. Các dữ liệu đầu vào dựa trên 16 mẫu đất thí nghiệm thực tế cùng hồ sơ đo đạc 23 khối trượt tại hiện trường, bảo đảm độ chính xác cao khi định lượng xác suất rủi ro về tính mạng P(DI) và tài sản P(DP).

Vì sao đất san lấp taluy dù đã được đầm chặt tiêu chuẩn vẫn có nguy cơ mất ổn định?

Thí nghiệm đầm chặt 2 mẫu ĐG9 và ĐG11 cho thấy dù dung trọng khô đạt 1,50 đến 1,56 g/cm3 và góc ma sát đạt 25,89 đến 28,29 độ, nhưng lực dính bão hòa vẫn rất thấp (từ 6,37 kPa đến 13,77 kPa) do bản chất đá phiến phong hóa vụn thô. Khi nước ngấm bão hòa, liên kết giữa các hạt đất bị triệt tiêu nhanh chóng nếu mái dốc không có lớp che phủ và thoát nước mặt.

Phương pháp dự báo khoảng lan truyền của vật liệu trượt nào được đánh giá tối ưu nhất?

Nghiên cứu so sánh 3 nhóm phương pháp và khẳng định mô hình góc trượt kinh nghiệm của Corominas (1996) kết hợp mô hình khối liên tục cải tiến của Hungr (1995) là tối ưu nhất. Phương pháp này cho phép tính toán chính xác vận tốc và phạm vi ảnh hưởng của dòng bùn đá xuống nền Quốc lộ 3 dựa trên thể tích khối trượt từ vài chục đến hàng nghìn mét khối.

Chính quyền địa phương có thể áp dụng ngay kết quả nghiên cứu vào thực tiễn như thế nào?

Ngành giao thông vận tải có thể sử dụng ngay danh mục tọa độ 23 khối trượt để cắm biển cảnh báo và ưu tiên bố trí vốn gia cố tường chắn tại các đoạn Km 201 đến Km 204. Đồng thời, thiết lập ngưỡng mưa tích lũy 24 giờ đạt 120 mm để chủ động phân luồng cấm đường, giúp phòng ngừa tuyệt đối 100% nguy cơ thiệt hại về người.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung phương pháp luận đánh giá rủi ro tai biến trượt lở định lượng kết hợp công nghệ GIS và phần mềm GeoSlope theo chuẩn quốc tế.
  • Khảo sát và lập hồ sơ hiện trạng chi tiết 23 khối trượt nguy hiểm phân bố dọc 6 km đường đèo Quốc lộ 3 thuộc địa phận Đèo Gió, huyện Ngân Sơn.
  • Chứng minh thực nghiệm sự suy giảm 33,4% lực dính của đất tàn tích khi bão hòa nước và xác định lượng mưa mùa hè chiếm 54% cả năm là tác nhân kích hoạt chính làm hệ số F hạ xuống dưới 1,0.
  • Đề xuất bộ giải pháp công trình thoát nước ngầm, tường chắn gia cố và phủ sinh thái vetiver đồng bộ, giúp khôi phục hệ số ổn định F đạt trên 1,30.
  • Hoàn thiện khung chính sách quản lý rủi ro thiên tai và thiết lập ngưỡng cảnh báo mưa tự động 120 mm/24h phục vụ an toàn giao thông bền vững cho tỉnh Bắc Kạn.

Luận văn là công trình nghiên cứu địa kỹ thuật bài bản, kết hợp nhuần nhuyễn giữa điều tra thực địa, thí nghiệm cơ lý và mô phỏng cơ học đất không bão hòa. Toàn bộ hệ thống giải pháp công trình và quan trắc cảnh báo sớm được khuyến nghị hoàn tất triển khai trong giai đoạn 2027 - 2028. Các cơ quan quản lý hạ tầng, nhà khoa học và kỹ sư công trình hãy tham khảo, áp dụng ngay các kết quả của luận văn để nâng cao năng lực phòng chống tai biến trượt lở trên toàn tuyến giao thông huyết mạch vùng Đông Bắc!