Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Tây Nguyên những năm gần đây đang đối mặt với tình trạng biến đổi khí hậu và sạt lở bờ sông diễn ra gay gắt, trong đó đoạn trung lưu sông Ba chảy qua thị xã Ayun Pa và huyện Ia Pa thuộc tỉnh Gia Lai là một trong những điểm nóng tai biến địa chất nghiêm trọng nhất. Tình trạng xói lở diễn ra liên tục với tốc độ lấn sâu vào bờ từ 5 đến 10 mét mỗi năm, phá hủy hàng trăm hecta đất nông nghiệp màu mỡ, cuốn trôi hoa màu và đe dọa trực tiếp đến tính mạng cùng công trình hạ tầng của hàng vạn người tộc người bản địa và cư dân đô thị. Điển hình trong thực tế, hiện tượng xâm thực bờ sông đã khoét sâu vào tận chân móng di tích chùa Quý Đức tại xã Ia Trôk, buộc chính quyền địa phương phải di dời khẩn cấp toàn bộ công trình tâm linh, đồng thời làm xói rỗng chân cột điện cao thế huyết mạch.

Trước áp lực bảo vệ an toàn dân sinh và phát triển kinh tế xã hội bền vững, nhà nước đã phải đầu tư hơn 400 tỷ đồng để xây dựng tuyến kè kiên cố dài khoảng 8 km từ cầu Quý Đức đến cầu Bến Mộng. Ước tính nếu tiếp tục triển khai xây dựng kè bảo vệ toàn diện cho cả hai bờ sông trên toàn vùng nghiên cứu, nguồn kinh phí có thể lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, nhận thức của cộng đồng và các cấp quản lý địa phương về nguyên nhân gây xói lở còn nhiều bất cập, dẫn đến tranh chấp kéo dài khi người dân bờ Đông đổ lỗi cho bờ Tây khai thác cát và ngược lại.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào việc làm rõ các yếu tố nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh phát sinh xói lở; đánh giá định lượng mức độ nhạy cảm và xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ xói lở bờ sông; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình khoa học nhằm giảm thiểu trên 70% thiệt hại thực tế. Phạm vi nghiên cứu bao quát khoảng 20 km dòng chính sông Ba và một đoạn hợp lưu sông Ayun, giới hạn trong tọa độ địa lý từ 108 độ 24 phút 20 giây đến 108 độ 30 phút 30 giây kinh độ Đông và từ 13 độ 21 phút 30 giây đến 13 độ 27 phút 02 giây vĩ độ Bắc, dựa trên chuỗi số liệu quan trắc và khảo sát thực địa từ năm 1993 đến năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết tai biến địa chất hiện đại kết hợp với nguyên lý động lực học dòng sông và quá trình tích tụ, xâm thực trầm tích Đệ tứ. Về mặt lý thuyết, tai biến xói lở bờ sông được xác định là quá trình địa động lực ngoại sinh phức tạp, hình thành dưới sự tương tác tổng hòa giữa trường thủy động lực học dòng chảy, hình thái lòng dẫn, tính chất cơ lý thạch học cấu tạo bờ và cấu trúc tân kiến tạo.

Mô hình nghiên cứu cốt lõi được xây dựng trên phương pháp phân tích thứ bậc đa tiêu chí AHP do Thomas L. Saaty đề xuất năm 1994, kết hợp với các thuật toán phân tích không gian trong môi trường Hệ thống Thông tin Địa lý GIS. Để định lượng mức độ nguy hiểm, luận văn xác lập 4 khái niệm khoa học then chốt:

Thứ nhất, tai biến xói lở bờ sông là hiện tượng mất ổn định cơ học dẫn đến sạt trượt, sụp đổ đất đá vách bờ dưới tác động xói ngầm và áp lực cắt của dòng nước.

Thứ hai, chỉ số nhạy cảm xói lở bờ sông ký hiệu là H, được tính bằng tổng tích phân giữa trọng số của từng nhân tố phát sinh và giá trị điểm số của từng lớp thành phần.

Thứ ba, động năng dòng chảy là đại lượng vật lý đặc trưng cho sức tàn phá của nước, tỷ lệ thuận với khối lượng nước và bình phương vận tốc dòng chảy.

Thứ tư, đới cấu trúc trũng địa hào là dạng cấu trúc địa chất sụt lún dạng bậc khống chế hướng dòng chảy và sự tập trung năng lượng lũ của mạng lưới sông suối hội tụ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa dạng và có độ tin cậy cao, bao gồm ảnh vệ tinh viễn thám Landsat năm 2014, mô hình số độ cao DEM, bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 năm 2000, bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 tờ Tuy Hòa và An Khê, cùng chuỗi dữ liệu thủy văn thực đo tại các trạm Ayun Pa, Củng Sơn, An Khê trong giai đoạn 1993 - 2014. Đề tài kế thừa trực tiếp nguồn tư liệu chuyên sâu từ đề tài khoa học cấp nhà nước mã số TN3.T04 thuộc Chương trình Tây Nguyên 3.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả đã tiến hành điều tra, đo vẽ chi tiết trên toàn bộ 56 cung xói lở thực tế dọc theo hơn 40 km chiều dài hai bờ sông. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng để thu thập các mẫu đất đá thạch học công trình tại 8 mặt cắt địa chất đại diện ở các thềm tích tụ Pleistocen và Holocen, nhằm thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý như độ dính kết, góc ma sát trong, dung trọng và thành phần hạt.

Phương pháp phân tích thứ bậc AHP của Saaty được lựa chọn nhờ khả năng chuẩn hóa định lượng các yếu tố chất lượng và triệt tiêu tính chủ quan của chuyên gia thông qua ma trận so sánh cặp và kiểm định tỷ số nhất quán. Kết hợp cùng các phần mềm GIS chuyên dụng như MapInfo và Ilwis, phương pháp này cho phép thành lập bản đồ nguy cơ với độ phân giải cao. Đồng thời, công thức thủy lực Sedi bổ sung bởi Lê Mạnh Hùng được ứng dụng để tính toán chính xác trường vận tốc dòng chảy thực tế. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 2 năm từ 2012 đến 2014 với 2 đợt khảo sát thực địa chuyên sâu vào mùa kiệt và mùa lũ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã phát hiện sự phân hóa rõ rệt về không gian và cường độ xói lở giữa hai bờ sông Ba. Bờ phải thuộc địa phận thị xã Ayun Pa dài 20 km được chia thành 20 đoạn, trong đó có 8 cung xói lở mạnh chiếm tới 52% tổng chiều dài bờ sông và 13 cung xói lở yếu chiếm 48%. Trong khi đó, bờ trái thuộc huyện Ia Pa có 33 cung xói lở với tổng chiều dài xói lở mạnh là gần 11 km chiếm 33%, xói lở trung bình chiếm 6% và xói lở yếu chiếm 61%. Các điểm sạt lở mạnh nhất đều tập trung ở các cung bờ lõm uốn cong như cung số 4 tại Cheo Reo dài 1.082 mét, cung số 7 tại Hòa Bình dài 1.741 mét, cung số 19 tại Ia RTô dài hơn 3.000 mét và cung số 33 tại Ia Trôk dài 824 mét.

Thứ hai, kết quả phân tích thạch học chỉ ra cơ chế sạt lở dạng hai tầng cấu trúc rất nguy hiểm. Tầng dưới chân vách ngập trong nước cấu tạo từ cát thô bở rời màu vàng sáng, rất dễ bị xói trôi tạo thành các hốc hàm ếch khoét sâu. Tầng trên mặt nước cao từ 2 đến 5 mét gồm cát mịn, cát bột lẫn mùn thực vật thuộc trầm tích thềm bậc 1 và thềm bậc 2 có liên kết yếu, khi mất bệ đỡ bên dưới sẽ bị sụt lở khối lớn từng mảng vào lòng sông.

Thứ ba, yếu tố thủy động lực dòng chảy vượt ngưỡng an toàn là tác nhân trực tiếp phá hủy bờ. Lưu lượng trung bình mùa mưa lũ tại trạm Củng Sơn lên tới 842 mét khối mỗi giây vào tháng 11, cao gấp gần 19 lần lưu lượng mùa kiệt ở mức 44,8 mét khối mỗi giây vào tháng 4. Vận tốc dòng chảy lũ tính toán tại trạm Ayun Pa đạt từ 1,25 đến 2,0 mét mỗi giây, vượt xa ngưỡng vận tốc giới hạn không gây xói của cát hạt mịn là 0,20 mét mỗi giây và cát pha sét là 0,25 đến 0,35 mét mỗi giây theo tiêu chuẩn Machkin.

Thứ tư, sự tác động tiêu cực của hoạt động nhân sinh và kiến tạo địa chất làm trầm trọng thêm tai biến. Mạng lưới sông hội tụ dạng địa hào trũng làm nghẽn thoát lũ tại nút thắt phía Tây Nam, kết hợp quy trình xả lũ đột ngột từ các hồ thủy điện Ayun Hạ, Sông Ba Thượng và tình trạng khai thác cát lòng sông bừa bãi tại chân cầu Bến Mộng đã làm biến đổi dòng chảy cục bộ và gia tăng áp lực xói mòn chân bờ.

Thảo luận kết quả

Về mặt nguyên nhân, xói lở bờ sông Ba đoạn qua thị xã Ayun Pa không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên đơn lẻ mà là kết quả của sự phá vỡ cân bằng động thái lòng sông. Hệ số uốn khúc cao lên tới 1,98 khiến lực ly tâm đẩy tim dòng chảy xiết áp sát vào bờ lõm, sinh ra lực cắt đáy và cuốn trôi lớp vật liệu hạt thô đáy sông.

Trong luận văn, toàn bộ dữ liệu thống kê hiện trạng và phân cấp nguy cơ được lượng hóa trực quan thông qua các bảng số liệu chi tiết và hệ thống biểu đồ cột so sánh tỷ lệ phần trăm chiều dài xói lở giữa các địa bàn hành chính. Các thông số vận tốc và cấp độ nhạy cảm được tích hợp thành công trên bản đồ phân vùng nguy cơ xói lở tỷ lệ 1:25.000, giúp người xem dễ dàng nhận diện ranh giới các vùng xung yếu.

So sánh với các nghiên cứu xói lở bờ sông tại khu vực Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, tai biến tại trũng Ayun Pa mang tính đặc thù cao do chịu sự chi phối mạnh mẽ của cấu trúc địa hào tân kiến tạo phương Tây Bắc - Đông Nam bị đứt gãy á kinh tuyến chia cắt. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của phát hiện này đã giúp giải tỏa khúc mắc giữa người dân bờ Đông và bờ Tây, khẳng định vai trò chủ đạo của yếu tố thủy thạch mạo tự nhiên kết hợp xả lũ nhân sinh, tạo căn cứ pháp lý và kỹ thuật chuẩn xác để địa phương chuyển trọng tâm từ ứng phó bị động sang phòng ngừa chủ động.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thi công kiên cố hóa các công trình bảo vệ bờ tại các cung xói lở xung yếu. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai và Ban Quản lý Dự án Giao thông Thủy lợi cần tập trung nguồn vốn hoàn thiện xây dựng khoảng 12 km kè lát mái đá hộc kết hợp khung bê tông cốt thép và mỏ hàn nắn dòng tại các cung xói lở cấp độ mạnh như cung số 4, số 7, số 19 và số 33. Mục tiêu đặt ra là triệt tiêu trên 95% áp lực va đập của dòng nước lũ vào bờ lõm, hoàn thành dứt điểm trong giai đoạn 2024 - 2028.

Thứ hai, khoanh vùng và thiết lập hành lang an toàn thoát lũ kết hợp di dời dân cư khẩn cấp. Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Ủy ban nhân dân thị xã Ayun Pa và huyện Ia Pa tiến hành cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ bờ sông với khoảng cách tối thiểu từ 20 đến 30 mét tính từ mép vách xói. Lập phương án bồi thường, di dời dứt điểm hơn 150 hộ dân đang sinh sống sát mép sạt lở tại buôn Plei Măng, buôn Jứ Ama Nai và khu vực lân cận chùa Quý Đức sang khu tái định cư an toàn trong giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ ba, triển khai giải pháp sinh học bảo vệ vách bờ thích ứng sinh thái bền vững. Chi cục Kiểm lâm Gia Lai cùng chính quyền xã Ia Hiao, Ia RTô, Ia Sao phát động phong trào trồng dải cây chắn sóng gồm tre gai, keo lai và thảm cỏ vetiver có bộ rễ bám sâu trên diện tích hơn 30 hecta tại các cung xói lở mức độ trung bình và yếu. Biện pháp này giúp cố định lớp cát bở rời tầng mặt, hạn chế xói mòn rửa trôi và giảm tới 50% kinh phí xây lắp so với giải pháp kè cứng, thực hiện liên tục từ năm 2024 đến năm 2030.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác cát và phối hợp vận hành điều tiết liên hồ chứa. Sở Công Thương và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai cần đình chỉ tuyệt đối các điểm khai thác cát không phép tại bãi bồi gần cầu Bến Mộng và khu vực giáp ranh huyện Phú Thiện. Đồng thời, thiết lập cơ chế giám sát tự động quy trình xả lũ liên hồ chứa Ayun Hạ, Sông Ba Thượng, An Khê - Ka Nak nhằm duy trì lưu lượng kiệt ổn định từ 25 đến 50 mét khối mỗi giây và hạn chế lưu lượng đỉnh xả tràn mùa mưa bão dưới mức 800 mét khối mỗi giây, triển khai áp dụng ngay trong năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý nhà nước và chuyên viên quy hoạch đô thị, bao gồm Ủy ban nhân dân thị xã Ayun Pa, Ủy ban nhân dân huyện Ia Pa, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Sở Xây dựng tỉnh Gia Lai. Luận văn cung cấp bản đồ phân vùng nguy cơ chi tiết tỷ lệ 1:25.000 để làm căn cứ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất, cấp phép xây dựng công trình ven sông và phân bổ ngân sách đầu tư công chống sạt lở hiệu quả.

Nhóm thứ hai là các kỹ sư công trình thủy lợi, chuyên gia địa kỹ thuật và đơn vị tư vấn thiết kế đê kè. Nhóm này có thể khai thác trực tiếp số liệu phân tích cơ lý đất đá, các mặt cắt địa chất thực đo và công thức tính toán vận tốc dòng chảy để lựa chọn kết cấu mái kè, chân khay rọ đá và góc nghiêng mỏ hàn tối ưu cho nền địa chất trầm tích bở rời Kainozoi.

Nhóm thứ ba là ban quản lý các công trình thủy điện và hồ chứa thủy lợi trên lưu vực sông Ba như Công ty Thủy điện An Khê - Ka Nak, Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Ayun Hạ. Cán bộ vận hành có thể tham khảo đặc trưng thủy văn, thời gian truyền lũ từ 7 đến 9 ngày và tương quan lưu lượng xả để xây dựng kịch bản xả lũ an toàn, giảm thiểu xung lượng phá hủy vùng hạ du.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các ngành Địa chất học, Địa mạo học, Thủy văn môi trường và Quản lý tai biến thiên tai. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về quy trình kết hợp viễn thám đa thời gian Landsat, khảo sát thực địa thạch học và mô hình hóa AHP - GIS trong nghiên cứu tai biến địa chất.

Câu hỏi thường gặp

Tốc độ xói lở bờ sông Ba qua thị xã Ayun Pa thực tế diễn ra nghiêm trọng ở mức độ nào? Tốc độ xâm thực bờ tại các cung bờ lõm xung yếu ghi nhận mức độ lấn sâu từ 5 đến 10 mét mỗi năm. Vách bờ bị khoét hàm ếch sụp đổ cao từ 2,5 đến 5 mét, cuốn trôi hàng chục hecta hoa màu và đất thổ cư. Điển hình tại phường Hòa Bình, cung xói lở dài 1.741 mét liên tục ăn sâu vào thềm phù sa đã phá hủy nhiều cơ sở sấy nông sản của người dân.

Tại sao khu vực chùa Quý Đức lại xảy ra hiện tượng sạt lở nghiêm trọng đến mức phải di dời? Khu vực chùa Quý Đức nằm đúng tâm cung uốn bờ lõm chịu tác động trực tiếp của luồng dòng chảy xiết mùa lũ với vận tốc lên tới 2,0 mét mỗi giây. Tầng cát thô bở rời dưới mực nước bị rửa trôi nhanh chóng tạo hốc rỗng, khiến khối đất cát bột tầng trên mất ổn định và sụp đổ thẳng xuống sông, ăn sâu vào tận móng chân tượng Phật.

Phương pháp phân tích thứ bậc AHP của Saaty đem lại ưu thế gì vượt trội cho nghiên cứu? Phương pháp AHP giúp lượng hóa chính xác tầm quan trọng của 5 nhóm nhân tố gây trượt lở thông qua ma trận so sánh cặp thông minh và vector riêng Eigen. Cách tiếp cận này loại trừ triệt để sai số cảm tính của chuyên gia, tạo cơ sở khoa học vững chắc để chồng xếp các lớp dữ liệu không gian trong GIS thành lập bản đồ cảnh báo nguy cơ chuẩn xác.

Kinh phí xây dựng hệ thống đê kè kiên cố trên toàn khu vực nghiên cứu ước tính khoảng bao nhiêu? Dự án kè kiên cố hóa đoạn bờ phải dài khoảng 8 km từ cầu Quý Đức đến cầu Bến Mộng đã tiêu tốn hơn 400 tỷ đồng ngân sách. Nếu mở rộng giải pháp kè cứng trên toàn bộ hơn 40 km đường bờ cho cả hai bên bờ thuộc thị xã Ayun Pa và huyện Ia Pa, tổng mức đầu tư ước tính có thể vượt hàng nghìn tỷ đồng.

Giải pháp phi công trình nào được đánh giá là tiết kiệm và mang lại hiệu quả bền vững nhất? Giải pháp tối ưu là kết hợp cắm mốc hành lang an toàn 20 đến 30 mét, cấm khai thác cát trái phép và trồng thảm thực vật bảo vệ bờ gồm tre gai, keo lai và cỏ vetiver. Phương pháp sinh học này giúp gia cố liên kết đất cát bở rời tầng mặt, bảo tồn cảnh quan sinh thái với chi phí đầu tư chỉ bằng khoảng 30% so với kè bê tông.

Kết luận

  • Nhận diện và đo vẽ chi tiết hiện trạng 56 cung xói lở dọc theo hơn 40 km đường bờ sông Ba đoạn qua thị xã Ayun Pa, huyện Ia Pa và huyện Phú Thiện.
  • Làm sáng tỏ quy luật sạt lở do sự kết hợp giữa cấu trúc địa hào trũng tân kiến tạo, nền địa chất hai tầng cát thô bở rời Đệ tứ và vận tốc dòng chảy mùa lũ vượt ngưỡng 2,0 mét mỗi giây.
  • Ứng dụng thành công mô hình thứ bậc AHP Saaty tích hợp công nghệ GIS để xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ xói lở tỷ lệ 1:25.000 có độ tin cậy khoa học cao.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể kết hợp xây dựng 12 km kè công trình xung yếu, trồng 30 hecta thảm thực vật sinh thái và cắm mốc hành lang an toàn 20 đến 30 mét.
  • Giải quyết xung đột nhận thức cộng đồng địa phương và cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng giúp tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng vốn đầu tư công trình đê kè.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hoàn thiện phương pháp luận đánh giá tai biến xói lở bờ sông chuyên sâu đầu tiên cho lưu vực sông Ba tại tỉnh Gia Lai, tạo cầu nối vững chắc giữa nghiên cứu địa chất kinh điển và công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương hoàn thành cắm mốc hành lang an toàn trong giai đoạn 2024 - 2025 và triển khai các dự án kè sinh học trọng điểm đến năm 2028.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và kỹ sư chuyên ngành quan tâm hãy tra cứu và tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ để tiếp cận trọn bộ dữ liệu cơ lý đất đá, hệ thống bản đồ nguy cơ và mô hình thủy lực phục vụ công tác quy hoạch an toàn bền vững.